Khi nói rằng, con dân Chúa phải vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời thì mới được ở lại trong sự cứu rỗi (đã có do bởi đức tin) và mới nhận được sự sống đời đời, thì có phải là đã thêm việc làm công đức vào sự được cứu, hay không?
Trả lời:
[HTTL Kiền Bái] Một con cái thật của Chúa, khi tin nhận Chúa Giê-xu sẽ được tha tội và trở nên thánh mỗi ngày. Sự nên thánh này sẽ tạo cho người đó có những việc làm tốt và đẹp lòng Đức Chúa Trời một cách tự nhiên chứ không phải ép mình làm việc đó. Sự khác biệt ở đây là con cái thật của Chúa là những kẻ được chọn vì Chúa đã có kế hoạch cứu họ ngay từ khi họ còn chưa ra đời, Chúa đã biết ai là người được chọn, vì Chúa là toàn tri, nên sự hiểu biết của Ngài vượt qua cả không gian và thời gian. Còn chúng ta thì không thể biết được điều này, vì vậy mà mọi Cơ đốc nhân vẫn phải đi rao truyền Tin Lành để mọi kẻ được nghe.
“Trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời, 5 bởi sự thương yêu của Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ, theo ý tốt của Ngài, 6 để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong Con yêu dấu của Ngài! 7 Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài…” (Ê-phê-sô 1: 4)
Con cái Chúa đã được Chúa chọn từ buổi sáng thế, bản tính tự nhiên của những người được chọn là nên thánh, và yêu mến Đức Chúa Trời mà họ vâng giữ điều răn. Vì vậy mà việc vâng giữ điều răn của Ngài là một điều tự nhiên và nhẹ nhàng. Còn với thế gian, để làm được điều lành như Chúa dạy thì đối với họ rất là khó khăn và nặng nề.
“1 Ai tin Ðức Chúa Giê-xu là Ðấng Christ, thì sanh bởi Ðức Chúa Trời; và ai yêu Ðức Chúa Trời là Ðấng đã sanh ra, thì cũng yêu kẻ đã sanh ra bởi Ngài.
2 Chúng ta biết mình yêu con cái Ðức Chúa Trời, khi chúng ta yêu Ðức Chúa Trời và giữ vẹn các điều răn Ngài.
3 Vì nầy là sự yêu mến Ðức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài. Ðiều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề,
4 vì hễ sự gì sanh bởi Ðức Chúa Trời, thì thắng hơn thế gian; và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta.
5 Ai là người thắng hơn thế gian, há chẳng phải kẻ tin Ðức Chúa Giê-xu là Con Ðức Chúa Trời hay sao?” ( I Giăng 5:1-5)
Những việc lành mà chúng ta làm ra, không phải là bởi chúng ta tạo ra việc lành đó mà chính là Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo.
Chúng ta được cứu hoàn toàn phụ thuộc vào ân điển của Ngài, rồi sau khi được cứu thì chúng ta sẽ tự nhiên làm được những điều mà Chúa dạy.
“8 Ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, mà là sự ban cho của Thiên Chúa.
9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, để cho không ai khoe mình;
10 vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đấng Christ Jesus để làm những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo.” (Ê-phê-sô 2: 8-10)
Còn ai quan niệm rằng chúng ta muốn được cứu thì ngoài việc tin Chúa Giê-xu chúng ta phải thêm việc lành nữa… là hoàn toàn sai. Điều này chính Giáo hội Công Giáo La-Mã đã từng mắc phải. Bởi vì nếu chúng ta phải làm thêm được việc lành để được cứu thì sự hy sinh của Chúa Giê-xu trên thập tự giá là chưa đủ. Từ đây sẽ nảy sinh rất nhiều vấn đề sai lầm khác như: nếu tôi làm chưa đủ thì cần phải đọc nhiều kinh sám hối, phải vào ngục luyện tội, phải nhờ các anh em khẩn cầu các Thánh cầu thay cho tôi… vân vân và vân vân thì mới được cứu.
Qúy Đôn
Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email:
luaphucamhp@yahoo.com
Trang Hoithanhkienbai Blog:
Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..
Con trẻ mà bị chết ngay từ khi trong bụng mẹ liệu có được vào Thiên đàng không?
Trả lời:
Hiện nay có 2 quan điểm giải kinh về vấn đề này:
Quan điểm thứ nhất:
Một số nhà giải kinh cho rằng con trẻ khi chết không được vào Thiên đàng vì còn có tội của tổ tông là A-đam và Ê-va truyền lại, hay còn gọi là “nguyên tội”. Kể cả khi con trẻ được cha mẹ là người tin Chúa làm lễ dâng con lên Thiên Chúa cũng không có nghĩa là con trẻ có thể được vào Thiên đàng, mọi sự đều phải trông cậy ở ân điển của Thiên Chúa chứ không phải bởi ý người.
“Nhưng bất cứ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Thiên Chúa, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sinh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sinh bởi Thiên Chúa vậy.”
(Giăng 1: 12-13)
Một người được cứu bởi sự tin nhận của bản thân người đó nơi Chúa Giê-xu mà thôi.
“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.”
(Giăng 3: 16)
Quan điểm thứ hai:
Các nhà giải kinh bảo vệ quan điểm này cho rằng Thiên Chúa là đấng nhân từ và thương xót và Ngài sẽ ban ân điển tùy theo cơ hội mà mỗi người nhận được khi còn sống. Nhất là khi đối với con trẻ còn quá bé và chưa thể có ý thức để có thể tiếp nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa thông qua Chúa Giê-xu. Họ chứng minh con trẻ là vô tội và sẽ được cứu rỗi bởi ơn thương xót của Chúa Giê-xu thông qua đoạn Kinh Thánh sau:
“Họ bắt con trai con gái mình Mà cúng tế ma quỷ.
Làm đổ máu vô tội ra, Tức là máu của con trai con gái mình, Mà họ cúng tế cho hình tượng xứ Ca-na-an; Nên xứ bị ô uế bởi máu ấy.”
(Thi Thiên 106: 37-38)
“Song Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng ngăn trở; vì nước thiên đàng thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy.”
(Ma-thi-ơ 19: 14)
“Quả thật ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi không đổi lại và nên như đứa trẻ thì chẳng được vào thiên đàng đâu”.
(Ma-thi-ơ 18: 3)
Qúy Đôn
Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email:
luaphucamhp@yahoo.com
Trang Hoithanhkienbai Blog:
Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..
Trong Tin lành Giăng 3:5: “Đức Chúa Giê-xu đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời”. Cho thấy nước có vai trò quan trọng trong sự cứu rỗi. Vậy nước này là gì?
Ngày nay có rất nhiều Cơ Đốc nhân đã hiểu chưa đúng về NƯỚC trong Giăng 3: 5, thậm chí có giáo sư giả, và tà giáo đã dùng câu KT này để nói về một chân lý cứu rỗi khác.
1. Hiểu và giải thích sai về từ NƯỚC
1.1. Hiểu và giải thích sai về từ NƯỚC khi hiểu NƯỚC là chỉ về phép báp tem bằng nước. Vì:
- Thứ nhất, ngay trong văn mạch Tin Lành Giăng đoạn 3 không hề nói trực tiếp về phép báp tem bằng nước.
- Thứ hai, nếu hiểu là phép bap-tem thì Người được báp- tem … mới vào Nước Đức Chúa Trời, thì điều này sai với chân lý cứu rỗi trong .
8 Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình;
1.2 Hiểu và giải thích sai về từ NƯỚC khi hiểu NƯỚC là chỉ về việc dùng nước tẩy gội tội lỗi. Vì nếu một người đã chịu dùng nước tẩy gội tội lỗi một lần thì người đó vào được nước Đức Chúa Trời, điều này cho thấy rằng sự cứu rỗi phụ thuộc vào việc làm (được tẩy gội bằng nước) không đúng với lẽ thật Êphê-sô 2: 8.
2. NƯỚC có nghĩa là gì?
2.1 NƯỚC có nghĩa ĐỨC THÁNH LINH. Vì văn mạch có nói đến sự tái sinh nên “nước” ở đây nên hiểu là tác động thanh tẩy và đổi mới của Đức Thánh Linh, và việc nhắc lại Đức Thánh Linh sau đó là một cách điệp ngữ nhấn mạnh thường gặp của người Do Thái, như chúng ta cũng có thể thấy trong Ma-thi-ơ 3:11: “Đấng ấy sẽ làm phép báp tem cho các ngươi bằng Đức Thánh Linh và bằng lửa” (ở đây rõ ràng lửa cũng chỉ về tác động của Đức Thánh Linh và có sự cố ý điệp ngữ để nhấn mạnh).
2.2 NƯỚC có nghĩa là nói về CHÚA GIÊ-XU tức là Chúa dùng để chỉ về chính Ngài.
Nếu hiểu theo vế đối của văn mạch thì Nước còn có nghĩa là bày tỏ sự sinh sản tức là sự sinh ra của một con người và ở đây từ "nước" hàm muốn ý để ám chỉ sự giáng sanh của Chúa Giê-xu. I Giăng 5:6-7 “Ấy chính Đức Chúa Giê-xu Christ đã giáng sinh và chịu chết, chẳng những Ngài sống thật sự trong xác thịt con người mà Ngài còn chịu chết như một con người; ấy là Đức Thánh Linh đã làm chứng, vì Đức Thánh Linh tức là lẽ thật”.
Igiăng 5:6 6 Ấy chính Đức Chúa Jêsus Christ đã lấy nước và huyết mà đến, chẳng những lấy nước mà thôi, bèn là lấy nước và huyết;
Như thế câu này giải thích " một người nhờ nước (tức là Chúa Giê-xu) và Thánh Linh mà sinh ra thì vào vương quốc Đức Chúa Trời", là lý đúng. 2.3 NƯỚC còn có nghĩa là biểu tượng về LỜI CHÚA nữa.Nước: biểu tượng Lời Đức Chúa Trời (Kinh Thánh)Ê-phê-sô 5: 26- 27: 26 để khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Đạo làm cho Hội tinh sạch, 27 đặng tỏ ra Hội thánh đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được ở trước mặt Ngài. Như vậy hiểu câu đó là "một người nhờ nước (tức là Lời Chúa) và Thánh Linh mà sinh ra thì vào vương quốc Đức Chúa Trời", cũng là lý đúng.
Bùi Quý Đôn
Ngày 2/3/2016
Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email:
luaphucamhp@yahoo.com
Trang Hoithanhkienbai Blog:
Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..
Tại sao nói Chúa yêu thương mà con đường dẫn đến Thiên Đàng
còn được gọi là "vào cửa hẹp"?
Xin chào Thầy ..., thật Đức Chúa Trời vì tình yêu lớn đã yêu nhân loại chứ không phải bởi việc làm của con người, và chính tình yêu đó Ngài đã ban CON MỘT của Ngài là Chúa Giê-xu cho nhân loại là CON ĐƯỜNG DUY NHẤT để con người được cứu rỗi, nhận được sự sống đời đời.
Và điều kiện duy nhất để nhận được sự sống đời đời hay Thiên Đàng là TIN và NHẬN LẤY
Thật ngày nay nhiều người (ngay trong HT cũng có)chỉ TIN mà thôi mà không NHẬN LẤY.
Họ TIN là có Chúa Giê-xu và Ngài đã chịu chết trên thập tự giá cách đây hơn 2000 năm, họ TIN là Chúa Giê-xu đã sống lại từ cõi chết sau ba ngày bị chôn trong hang đá, họ TIN những công việc Chúa Giê-xu đã làm trên đất cách đây khoảng hơn 2000 năm, nhưng họ đâu có NHẬN lấy những công việc mà Chúa Giê-xu đã làm cho chính mình, vì mình.
Nếu TIN Chúa Giê-xu thì Ma-quỷ cũng Tin mà, nên cửa rất rộng
Nhưng TIN - NHẬN thì là rất hẹp rồi. Vì NHẬN bao hàm hàm sự công nhận có Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá; và tin rằng Đức Chúa Trời yêu thương nhân loại; và con người hoàn toàn sa ngã; và cũng phải tin rằng Chúa Giê-xu là Con Độc Sanh đã nhập thế, nhập thể làm người và chịu chết trên thập tự có quyền ban cho nhân loại sự sống đời đời và giải thoát con người khỏi quyền lực của tội lỗi duy nhất trong Ngài mà thôi và con xưng nhận Ngài là Cứu Thế, là Vua của cuộc đời mình nữa.
KT chép: "Bởi vì có nhiều kẻ được gọi, mà ít
người được chọn." Ma-thi-ơ 22: 14
Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email:
luaphucamhp@yahoo.com
Trang Hoithanhkienbai Blog:
Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..
Tôi nghe mấy người Tin Lành nói Chúa Jêsus là dòng dõi vua Đa-vít của dân Do thái. Vậy tại sao Chúa không giáng sanh nơi hoàng cung, mà phải chịu sanh ra trong chuồng chiên máng cỏ. Như vậy có mâu thuẫn hay không?
Trả lời:
Cảm ơn vị thính giả đã gởi cho tôi câu hỏi thích hiệp với mùa Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus Giáng Sinh. Trong câu hỏi này có 3 vấn đề cần nói rõ.
Thứ nhất: Tại sao Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời lại chọn dân Do Thái để Ngài giáng sinh vào đời?
Thật sự đây là thắc mắc của rất nhiều người đến nỗi có câu thơ rằng: Đức Chúa Trời kỳ quái, lại chọn dân Do Thái.
Để hiểu được lý do Chúa Jêsus chọn dân Do Thái, chúng ta thấy các dân tộc trên thế giới thường đưa ra nguồn gốc dân tộc mình từ những câu chuyện mang tính chất thần thoại mà các sử gia gọi là Huyền sử. Trong khi đó, qua Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời, cũng như qua lịch sử thế giới cho biết dân Do Thái có nguồn gốc từ một người tên Áp-ra-ham. Áp-ra-ham sống vào khoảng 2.000 năm trước khi Chúa Jêsus giáng sinh tại một thành phố thuộc nước I-rắc ngày nay. Áp-ra-ham đã được Đức Chúa Trời kêu gọi ra khỏi quê hương thờ hình tượng của ông đi đến một xứ mà Chúa sẽ chỉ cho. Dù ông không biết xứ đó ở đâu nhưng ông vẫn vâng lời Chúa.
Bởi sự vâng lời đó, ông được Chúa ban nhiều lời hứa trong đó có lời hứa: “Các dân tộc trong thế gian sẽ nhờ dòng dõi ông mà được phước.” Lời hứa này được ứng nghiệm kỳ diệu khi Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời đã chọn dân Do Thái để vào đời. Ngài bằng lòng làm một người Do Thái để thực hiện chương trình cứu rỗi không phải chỉ cho dân Do Thái mà cho các dân tộc khác, trong đó có dân tộc Việt Nam chúng ta.
Kinh Thánh xác nhận rằng: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian,” trong đó có dân tộc Việt Nam chúng ta, không phải chỉ yêu thương dân Do Thái, đến đổi đã ban Chúa Jêsus chịu chết trên cây thập tự đền tội cho các dân tộc, hầu cho hễ ai tin Chúa Jêsus, dù họ là dân tộc nào cũng không bị hư mất mà được sự sống đời đời.
Cảm ơn Chúa, trong khi các danh nhân, giáo chủ được sinh ra cách tình cờ làm người thuộc dân tộc này dân tộc kia, thì Chúa Jêsus gián sinh đã được báo trước hàng ngàn năm chứng minh Ngài là Đức Chúa Trời Tạo Hoá vì yêu thương loài người nên đã giáng thế cứu người.
Thứ hai: Tại sao Chúa Jêsus lại chọn giáng sinh thuộc dòng dõi Vua Đa-vít? Vua Đa-vít là ai?
Một lần nữa Kinh Thánh cũng như lịch sử thế giới cho chúng ta biết Đa-vít là một người Do-thái sống trước khi Chúa Jêsus giáng sinh1.000 năm, từ một người chăn chiên quê ở làng Bết-lê-hem, đã được Đức Chúa Trời ban ơn làm vua nước Do-thái. Vua Đa-vít là vị vua đầu tiên đem lại sự thống nhất cho nước Do-thái và làm cho nước Do-thái trở nên hùng mạnh, bắt phục các lân bang.
Đặc biệt dù là vua, nhưng khi Đa-vít phạm bất cứ tội nào bị Chúa quở trác, Đa-vít đều hạ mình ăn năn xin Chúa tha thứ. Vì tấm lòng luôn kính sợ Chúa như vậy, vua Đa-vít được Chúa hứa dòng dõi ông sẽ ngồi trên ngôi nước Do Thái đời đời.
Và để hoàn thành lời hứa này, Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời đã giáng sinh làm một người Do-thái thuộc dòng dõi vua Đa-vít, ứng nghiệm lời tiên tri loan báo 1.000 năm trước khi Ngài giáng sinh.
Một điều kỳ diệu nữa là 500 năm trước khi Chúa Jêsus giáng sinh, thì lời tiên tri trong Kinh Thánh báo trước địa điểm Chúa Jêsus giáng sinh là tại làng Bết-lê-hem khu vực thành Giê-ru-sa-lem. Bạn có biết không khi bà Ma-ri mang thai Chúa Jêsus thì bà đang ở tại làng Na-xa-rét phía Bắc, còn làng Bết-lê-hem ở phía Nam cách xa 300 dặm, tức khoảng 450 cây số. Tại bây giờ quý thính giả đang sống ở thời đại giao thông thuận tiện và nhanh qua phi cơ, xe hơi, tài hỏa tốc hành, nên 450 cây số không đáng ngại, nhưng hơn 2000 năm trước, lúc Chúa Jêsus sanh ra thì phương tiện di chuyển tốt nhất là bằng ngựa, lạc đà, lừa, la, là những phương tiện dành cho nhà giàu, còn Giô-sép và Ma-ri làm gì có phương tiện đó.
Thế thì làm sao cho một phụ nữ mang thai gần ngày sanh bằng lòng đi một đoạn đường dài 450 cây số hầu cho lời tiên tri ứng nghiệm? Chúa đã dùng chiếu chỉ của Hoàng Đế La-mã lúc bấy giờ là Âu-gút-tơ ra lệnh kiểm tra dân số, ai sanh ở đâu thì phải về nơi đó khai tên với mục đích đánh thuế toàn đế quốc trong đó có nước Do-thái đang bị La-mã đô hộ. Do đây là lịnh của vua, nên dù gần ngày sanh không muốn đi, Ma-ri cũng phải đi về Bết-lê-hem và đang khi Giô-sép và Ma-ri ở Bết-lê-hem thì ngày sanh của Ma-ri đã đến, người sanh con trai đầu lòng, lấy khăn bọ con mình, đặt nằm trong máng cỏ, vì nhà quán không có đủ chổ ở.
Một điều quan trọng nữa, Kinh Thánh cho biết Chúa Jêsus đã đến thế gian lần thứ nhất làm Cứu Chúa bằng cách đó để chịu chết đền tội cho nhân loại. Rồi Chúa Jêsus sẽ trở lại thế giới này lần thứ hai để hủy diệt các chủ quyền, các thế lực, kể cả quỉ Sa-tan và ma quỷ. Ngài sẽ làm Vua trên muôn vua, ngồi trên ngôi Đa-vít cai trị một Vương Quốc trên trời, dưới đất, bên dưới đất đời đời, ban thưởng những người tin nhận Ngài làm Cứu Chúa, hình phạt những người từ chối không tin thờ Ngài.
Cám ơn Chúa đã cho bạn biết Chúa Jêsus giáng sinh thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Xin Chúa cho bạn mau mau tin thờ Ngài trong mùa Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus Giáng Sinh này, hầu cho khi Chúa Jêsus trở lại làm Vua muôn vua, bạn không bị hình phạt mà được hưởng phước đời đời.
Thứ ba: Tại sao Chúa Jêsus không giáng sinh nơi hoàng cung mà lại giáng sinh nơi chuồng chiên máng cỏ?
Tôi xin được hỏi lại bạn một câu nhé. Nếu Chúa Jêsus giáng sinh nơi hoàng cung thì bạn và tôi có thể vào cung điện gặp Chúa được không? Không biết bạn có vào được không, nhưng phần tôi thì chắc chắn không vào được rồi. Nhất là hoàng cung lúc bấy giờ do vua Hê-rốt là vị vua cực kỳ hung ác. Vua này dám giết mẹ, giết vợ, giết 3 đứa con. Lúc gần chết, dân chúng ăn mừng thì ra lệnh giết hàng ngàn người. Nếu Chúa Jêsus giáng sinh trong hoàng cung đó thì không ai có thể gặp Ngài.
Cảm ơn Chúa, Chúa Jêsus đã giáng sinh nơi chuồng chiên máng cỏ đê hèn, hầu cho ai cũng có thể đến với Ngài để được cứu rỗi, dù là nghèo như những người chăn chiên hoặc giàu có học thức khôn ngoan như các nhà thông thái từ phương Đông đến tìm Chúa.
Bạn có biết không, Kinh Thánh còn làm chứng rằng chẳng những Chúa Jêsus giáng sinh nơi chuồng chiên máng cỏ đơn sơ mà còn chọn sống cuộc sống 33 năm rưỡi trên đất trong một gia đình nghèo, Chúa Jêsus nếm trải hết mọi nhọc nhằn, cực khổ, vui buồn của kiếp người như mọi người. Bạn sẽ hỏi Chúa Jêsus sống như vậy để làm gì? Bạn hãy nghe Kinh Thánh trả lời:
Chúa Jêsus đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta…
Vì quả thật, không phải Chúa Jêsus đến thế gian để giúp các thiên sứ bèn là giúp dòng dõi Áp-ra-ham. Nhơn đó, Ngài phải chịu làm giống như anh em mình trong mọi sự.
Vì chính Chúa Jêsus chịu khổ trong khi bị cám dỗ nên Ngài có thể cứu những kẻ bị cám dỗ.
Vì chúng ta có một Chúa Jêsus là thầy tế lễ thượng phẩm bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội. Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng.
Bạn ơi, một sự cứu giúp mà không phát xuất từ sự cảm thông của chính người cứu giúp, thì đó chỉ là sự bố thí. Chúa Jêsus không đến thế gian để bố thí, mà Chúa Jêsus giáng sinh làm người trên đất để ban cho nhân loại tình yêu thương, chẳng những bằng lòng chết thay cho bạn và tôi mà Ngài còn muốn làm một người bạn thân chia sẻ vui buồn trong kiếp người và sẵn sàng cứu giúp chúng ta trong mọi hoàn cảnh ở đấu cũng như ở trời.
Nhân mùa Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus Giáng Sinh này, tôi xin Chúa cho bạn được gặp Chúa, mời Chúa giáng sinh trong lòng mình để bạn cũng như chúng tôi cùng nhau bước đi trên Con Đường Vĩnh Phúc. Có một người đã gặp Chúa Jêsus và được Chúa Jêsus ngự vào lòng, đã viết ra kinh nghiệm của mình như sau:
Gặp gỡ Chúa Jêsus, biến đổi cuộc đời mình.
Gặp gỡ Chúa Jêsus, hưởng nhận ơn tái sinh (nghĩa là được Chúa Jêsus ban cho đời sống mới).
Gặp gỡ Chúa Jêsus, chân thành mình gặp mình (nghĩa là nhận diện rõ chính mình, sống thật với cuộc đời).
Gặp gỡ Chúa Jêsus, nảy sinh tình đệ huynh (nghĩa là biết yêu thương người chung quanh).
Đời sống ý nghĩa biết bao! Bạn đừng chần chờ nữa nhé!
Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email:
luaphucamhp@yahoo.com
Trang Hoithanhkienbai Blog:
Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..
Đường đến với Chúa chỉ có một con đường hay là nhiều hơn một con đường?
Nếu chỉ có một con đường thì con đường nào là đúng giữa hai con đường là đạo Thiên Chúa và đạo Tin lành?
Đạo Thiên Chúa họ cũng thờ Chúa Trời, họ cũng làm theo Kinh Thánh, đời sống cơ đốc của họ cũng trong sáng và mẫu mực. Như vậy có thể nói là họ sai được sao?
Giá sử họ sai thì họ đã sai ở những điểm nào? Vậy tại sao Đức Chúa Trời không tỏ cho họ biết? Như vậy họ có được cứu không?
Trả Lời:
Chúng tôi rất cảm ơn bạn đã chia sẻ với chúng tôi ưu tư của bạn. Câu hỏi của bạn cũng là câu hỏi của nhiều người khác và cũng đã từng là câu hỏi của bản thân chúng tôi trước đây.
Như bạn cảm nhận, chúng ta chỉ biết cảm ơn Chúa vì Chúa cho chúng ta biết Ngài. Tuy nhiên, đôi lúc nào đó trong cuộc đời, chúng ta cũng không khỏi băn khoăn trước câu hỏi: Liệu con đường tôi đi có phải là chân lý? Liệu tôi có quá chủ quan trong niềm tin của tôi? Thế còn biết bao nhiêu người khác xung quanh tôi không tin Chúa thì sao? Chẳng lẽ họ đều sai lầm cả? Tôi vẫn thấy họ sống rất đạo đức mà!
Trước khi trả lời thắc mắc của bạn, chúng tôi xin nói thêm một điểm là chúng ta chỉ có thể giải đáp thắc mắc này nếu chúng ta đặt lòng tin hoàn toàn vào Kinh Thánh, nghĩa là chúng ta tin rằng điều Kinh Thánh nói là chân lý. Như bạn đã thấy, vấn đề ở đây là vấn đề của niềm tin. Không ai giải thích được trọn vẹn vì sao tôi tin điều này mà lại không tin điều kia. Bản chất của "niềm tin" bao hàm một sự giao thác, dù rằng cũng ít nhiều trên nền tảng lý trí hiểu biết, nhưng nó vượt xa hơn những gì mà lý trí con người cảm nhận được. Vậy chúng ta sẽ tiếp cận câu hỏi của bạn trên nền tảng là niềm tin nơi Kinh Thánh, là chân lý và chuẩn mực cho sự lý giải của chúng ta.
Chúng tôi xin trả lời câu hỏi của bạn theo từng ý. Trước nhất, chỉ có một con đường cứu rỗi duy nhất là con đường cứu rỗi qua đức tin nơi công lao cứu chuộc của Chúa Giêxu. Kinh Thánh Công vụ 4:12 chép "Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác vì ở dưới trời chẳng có danh nào khác ban cho loài người để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu." Chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là sự cứu rỗi duy nhất là thông qua CHÚA GIÊXU, chớ không phải thông qua nhà thờ Tin Lành hay bất kỳ nhà thờ nào. Điều này có nghĩa là, không phải bất kỳ ai gia nhập vô một nhà thờ của đạo Tin Lành đều được cứu cả. Chỉ những người thật lòng nhìn nhận mình có tội, bất lực vì biết rằng mình không thể tự cứu mình được, và hoàn toàn nhờ Chúa chết thay cho mình thì mình mới được tha tội và được cứu linh hồn thì mới được cứu. Có rất nhiều người là thành viên của những nhà thờ mà chưa thật sự tin và vì vậy họ không được cứu.
Khi nói đến "đạo Tin Lành" cũng là một khái niệm rất rộng, có thể vì bạn chưa có dịp tiếp xúc được nhiều những giáo phái mà tiếng Việt gọi là đạo Tin Lành (tiếng Anh gọi là Christianity), dù trong phạm vi mang tên "Tin Lành" đó, cũng có những suy nghĩ quan điểm rất khác nhau. Thế thì vấn đề không phải là đạo Tin Lành hay đạo Thiên Chúa mà là tin nơi CHÚA GIÊXU. Nếu bạn đã tin nơi Ngài, bạn hãy yên tâm rằng mình được cứu và Chúa biết bạn là người thuộc về Ngài dù hiện tại bạn đang ở trong một giáo hội nào.
Điều đó đưa đến vấn đề là: Thế thì tôi có thể gia nhập bất kỳ đạo nào sao? Đây lại là một vấn đề khác. Một con cái thật của Chúa, hết lòng yêu mến Chúa sẽ ao ước muốn làm đúng theo Lời Chúa dạy và vì thế sẽ tìm kiếm được thờ phượng Chúa ở nơi nào làm đúng theo Lời Chúa. Và Lời Chúa, tất nhiên, là Kinh Thánh. Nếu bạn tin Chúa và yêu Chúa, bạn sẽ muốn thờ phượng tại một nơi giảng dạy và thờ phượng theo Kinh Thánh. Thật ra cả giáo hội Thiên Chúa Giáo và những giáo hội Tin Lành đều nhận rằng mình giảng dạy theo Kinh Thánh. Nhưng chúng tôi rất tiếc mà nói rằng, điều đó không phải luôn luôn chính xác. Tại sao? Vì con người tự nhiên chúng ta với trí khôn hữu hạn và lý trí bị hoen ố bởi tội lỗi nên không có khả năng HIỂU BIẾT ĐÚNG Kinh Thánh như chính thật ý của Đức Chúa Trời , nghĩa là bởi lý trí bình thường tự nhiên của chúng ta, chúng ta không thể hiểu được Kinh Thánh.
Chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là sự cứu rỗi duy nhất là thông qua CHÚA GIÊXU, chớ không phải thông qua nhà thờ Tin Lành hay bất kỳ nhà thờ nào. Điều này có nghĩa là, không phải bất kỳ ai gia nhập vô một nhà thờ của đạo Tin Lành đều được cứu cả. Chỉ những người thật lòng nhìn nhận mình có tội, bất lực vì biết rằng mình không thể tự cứu mình được, và hoàn toàn nhờ Chúa chết thay cho mình thì mình mới được tha tội và được cứu linh hồn thì mới được cứu. Có rất nhiều người là thành viên của những nhà thờ mà chưa thật sự tin và vì vậy họ không được cứu.
Chân Lý Kinh Thánh
Giăng 14:26 chép "Nhưng Đấng Yên Ủi, tức là Đức Thánh Linh... sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều ta phán cùng các ngươi." 1Côrinhtô 2:10 "Đức Chúa Trời đã dùng Đức Thánh Linh để bày tỏ những sự đó cho chúng ta..." (Nếu bạn có thời gian, xin bạn đọc cả 1Côrinhtô 2:6-16 sẽ thấy rõ thể nào chỉ có Đức Thánh Linh mới cho chúng ta được hiểu Kinh Thánh). Vậy thì chỉ những ai CÓ THÁNH LINH trong lòng mới có khả năng hiểu Kinh Thánh theo đúng ý tưởng của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, mức độ hiểu biết Kinh Thánh của chúng ta nhiều hay ít, chính xác đến mức độ nào... cũng sẽ lớn dần theo đời sống theo Chúa của chúng ta, mức độ học hỏi Kinh Thánh của chúng ta và sự bày tỏ của Chúa nữa. Nói tóm lại, vì Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời chớ không phải là sách vỡ văn chương của con người chúng ta nên người ta không thể hiểu biết Kinh Thánh như những sách vỡ khác mà cần có Thánh Linh hướng dẫn. Điều đó đưa đến những trường hợp sau: Những người không thật sự tin Chúa, không có Thánh Linh trong lòng, sẽ không hiểu Kinh Thánh gì cả dù có thể hiểu nó trên bình diện chữ nghĩa văn chương, hoặc hiểu Kinh Thánh một cách lệch lạc. Những người có Thánh Linh trong lòng có khả năng học và hiểu Kinh Thánh nhưng mỗi người vẫn ở một mức độ khác nhau. Có nhiều giáo hội mang tên Tin Lành và cả giáo hội Thiên Chúa Giáo đều nói mình thờ phượng Đức Chúa Trời và giảng dạy Kinh Thánh, nhưng mức độ người ta giảng dạy đúng Kinh Thánh đến bao nhiêu là một điều hoàn toàn khác.
Riêng về niềm tin Thiên Chúa Giáo, vì bạn hỏi đặc biệt về giáo hội này nên chúng tôi xin mở rộng một chút tại đây. Vấn đề lớn nhất trong niềm tin Thiên Chúa Giáo là vấn đề sự cứu rỗi có được bởi đức tin và sự góp phần của công đức con người nữa. Dù rằng Thiên Chúa Giáo cũng tin Chúa Giêxu chết thay cho tội lỗi con người, nhưng để được cứu, ngoài đức tin nơi Chúa con người phải làm điều thiện mới được sự cứu rỗi. Kinh Thánh Êphêsô 2:8,9 nói "Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời, ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình." Kinh Thánh cũng dạy chúng ta làm điều tốt, Galati 6:9 nói "Chớ mệt nhọc về sự làm lành..." Tuy nhiên, vấn đề là thứ tự của nó: nghĩa là chúng ta phải TIN ĐỂ ĐƯỢC CỨU, rồi bởi là Con Chúa, chúng ta LÀM LÀNH BỞI MUỐN LÀM THEO LỜI CHÚA. Chúng ta không cố gắng làm lành để có công mà được cứu vì công trạng của chúng ta không thể cứu chúng ta.
Một vấn đề lớn nữa của niềm tin Thiên Chúa Giáo và việc cầu xin qua trung gian bà Mari và các thánh. Kinh Thánh dạy trong 2Timôthê 2:5 "Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Giêxu Christ, là người." Theo đó, chúng ta chỉ có thể cầu nguyện thông qua (hay "trong danh") Chúa Giêxu mà thôi.
Bạn hỏi vậy thì người Thiên Chúa Giáo có được cứu không? Và nếu họ sai thì tại sao Chúa không cho họ biết? Chúng tôi xin trở lại với điều chúng tôi nói ban đầu. Nếu ai tin mình có tội và chỉ nhờ Chúa Giêxu chết thay tội lỗi mình mới được cứu thì được sự cứu rỗi chớ không phải vì ở trong giáo hội nào. Vậy nếu giả dụ có ai đó trong giáo hội Thiên Chúa Giáo mà có lòng tin đúng như vậy và sống đúng theo Lời Kinh Thánh thì người đó được cứu. Tuy nhiên, một điều tự nhiên là nếu người đó thật sự hiểu biết Kinh Thánh thì một lúc nào đó sẽ nhận ra những vấn đề chưa thích hiệp trong niềm tin Thiên Chúa Giáo so với Kinh Thánh... Còn tại sao Chúa không cho họ biết họ sai? Điều đó là việc của Chúa, và là ý muốn của Ngài. Đức Chúa Trời tể trị trên muôn vật, việc mở mắt để cho người ta thấy được lẽ thật là quyền của Ngài như trong Rôma 9:15 chép: "Vì Ngài phán cùng Môi-se rằng: Ta sẽ làm ơn cho kẻ ta làm ơn, ta sẽ thương xót kẻ ta thương xót.", chúng ta không cần phải thắc mắc về điều này. Bạn có thể đọc cả đoạn 9 của sách Rôma sẽ thấy rõ hơn. Sự cứu rỗi là vấn đề riêng tư của mỗi cá nhân với Đức Chúa Trời: không ai biết ai được cứu không ngoài Đức Chúa Trời và bản thân người đó.
Thế thì làm sao tôi biết tôi đang ở trong một giáo hội đúng hay sai? Trước hết, chúng tôi muốn bạn an tâm về sự cứu rỗi của mình ở trong Chúa Giêxu chớ không ở trong giáo hội, hầu cho bạn đừng quá bất an về vấn đề giáo hội nữa. Thứ hai, chúng ta cảm ơn Chúa vì mình đã có Kinh Thánh trong tay và có Thánh Linh trong lòng. Bạn hãy cầu xin Chúa hướng dẫn bạn hiểu được Kinh Thánh để tìm ra chân lý cho đời sống mình. Chúng tôi đã từng cầu nguyện lời cầu nguyện đó mỗi lần chúng tôi phải đứng trước một sự hoang mang, chọn lựa... Và chúng tôi đã thấy Đức Chúa Trời từng bước dẫn dắt chúng tôi tìm đến chính mình Ngài, dù rằng đó là một quá trình dài.
Chúng ta hãy tin nơi Đức Chúa Trời, Đấng biết kẻ thuộc về Ngài và Ngài yêu mến những tấm lòng chân thành tìm kiếm Ngài, Ngài sẽ mở mắt cho bạn nhìn thấy con đường thật trong Ngài.
Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email:
luaphucamhp@yahoo.com
Trang Hoithanhkienbai Blog:
Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..
Trong khi nghe bài giảng và cuộc trò chuyện, hay tài liệu nghiê cứu, chúng ta thường hay thấy người ta dùng hai từ ngữ : Khi thì Thánh Kinh khi thì Kinh Thánh. Chúng ta tìm hiểu lý do của sự khác biệt này.
1. Từ Kinh và Thánh:
Đây là hai từ Hán-Việt :
- Kinh là sách thời xưa, dùng làm khuôn mẫu, quy luật cho một tôn giáo, như Ngũ Kinh trong Nho Giáo, Kinh Phật trong Phật Giáo, Kinh Coran trong Hồi Giáo… hoặc sách nghi lại lời dạy của các bậc thánh hiền như Kinh Thi, Kinh Thư, Đạo đức Kinh, …
- Thánh: hiểu nôm na là một cái gì cao siêu, có khi thuộc giới thần linh … Theo từ điển Việt Nam thì “Thánh” là sạch sẽ, đạo đức (như các bậc thánh hiền, Thánh Gandhi …) Còn theo cách dùng của Kinh Thánh thì theo Hi-bá-lai văn là qodesh; Hi-văn là Hagiazô có nghĩa là phân rẽ, biệt riêng ra (hàm ý biệt riêng ra cho Đức Chúa Trời II Cô-rinh-tô 6: 17-18).
2. Cặp từ Kinh Thánh/ Thánh Kinh:
Trong cặp từ này Kinh là danh từ, Thánh là tính từ.
- Trong chữ Hán, tính từ đi trước danh từ, ví dụ : bạch yến, ác nhân.
- Còn trong tiếng Việt, tính từ thường đi sau, ví dụ : mèo đen, người tốt.
àNhư vậy Thánh Kinh là từ ngữ dùng theo chữ Hán, còn Kinh Thánh là từ ngữ dùng theo tiếng Việt.
Từ việc tìm hiểu trên, chúng ta thấy tiếng Việt chấp nhận cả hai từ ngữ Thánh Kinh và Kinh Thánh, tùy thuộc vào người dùng có thể lựa chọn.
3. Lẽ thật:
Kinh Thánh (hay Thánh Kinh) là một quyển sách được biệt riêng ra thuộc về Đức Chúa Trời, hoặc một quyển sách ghi chép những lời dạy của Đức Chúa Trời dành cho con người.
Nếu không có chữ “Thánh” thì mất đi ý nghĩa đích thực của Kinh Thánh, dễ bị làm lẫn với các sách khác hoặc các sách của các tôn giáo. Ngược lại, cũng không có tôn giáo nào hoặc sách nào của thế gian được gọi là Kinh Thánh.
Ước mong sự đáp lời của chúng tôi góp phần giải quyết thắc mắc của bạn!
Mọi góp ý để câu trả lời tốt hơn xin để lại tại comment [khung bình luận- nhận xét] hay gửi Email tới: luaphucamhp@yahoo.com
Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email:
luaphucamhp@yahoo.com
Trang Hoithanhkienbai Blog:
Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..
Sự Chết Của Chúa Giê-xu Có Khác Gì Với Sự Chết Của Các Bậc Danh Nhân, Giáo Chủ?
Câu hỏi: Tôi nghe nói người Tin Lành rất chú trọng đến sự chết của Chúa Jêsus, sự chết của Chúa Jêsus có khác gì với sự chết của các bậc danh nhân, giáo chủ không?
Trả lời:
Cảm ơn Chúa, tuần lễ nầy là tuần lễ đặc biệt liên quan đến 2 trong 3 Đại Lễ của những người tin Chúa Jêsus, đó là ngoài Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus giáng sanh rất quen thuộc, còn có hai Lễ khác là Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus chịu khổ nạn và chịu chết; Lễ thứ ba là Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết. Cảm ơn Bạn thính giả đã có câu hỏi liên quan đến sự chết của Chúa Jêsus trong thời điểm quan trọng nầy. Ít nhất có 3 điều cần nói đến trong sự chết của Chúa Jêsus.
I/. ĐIỀU CẦN NÓI ĐẾN THỨ 1 LÀ SỰ HẠ MÌNH CỦA CHÚA JÊSUS.
Kinh thánh ghi lại cái đêm đau thương, sỉ nhục mà Chúa Jêsus phải chịu đã bắt đầu như sau:Trước ngày Lễ Vượt qua, Đức Chúa Jêsus biết giờ mình phải lìa thế gian đặng trở về cùng Đức Chúa Cha đến rồi; Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng… Đức Chúa Jêsus … đứng dậy khỏi bàn, cởi áo ra, lấy khăn vấn ngang lưng mình. Kế đó, Ngài đổ nước vào chậu, và rửa chơn cho môn đồ, lại lấy khăn mình đã vấn mà lau chơn cho… (Giăng 13:1-4).
Kinh thánh đã đưa ra hai hình ảnh cách biệt nhau:
Một Bên Là Chúa Jêsus:
Kinh thánh giới thiệu Chúa Jêsus là Đấng từ Đức Chúa Trời đến thế gian nầy, Ngài là Thầy, là Chúa. Kinh thánh muốn tái xác quyết rằng Chúa Jêsus chính là Đức Chúa Trời Tạo Hóa, Ngài là Chủ của những người đang hiện diện trong đêm cuối cùng trước khi chịu chết đền tội cho nhân loại.
Một Bên là các Môn đồ:
Các môn đồ nầy là ai? Họ là con người thọ tạo, là những ngư dân tầm thường, hoặc một công chức địa phương, là những người dốt nát không học từ những Trường chính qui nổi tiếng nào (Công vụ 4:13).
So sánh giữa hai đại lượng đó, thật là một sự cách biệt quá xa. Nhưng Chúa Jêsus đã làm gì? Chúa Jêsus đã hạ mình xuống làm người, thậm chí làm một tôi tớ phục vụ các môn đồ bằng cách rửa chơn cho họ, lấy khăn mình lau chơn cho họ. Kinh thánh phán:Chúa Jêsus Christ vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng của mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự (Philip 2:5-8)
Nguyên nhân nào khiến Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời Tạo Hóa hạ mình như vậy? Đến nỗi vua Đa-vít phải thốt lên lời ngạc nhiên quá sức:Loài người là gì, mà Chúa nhớ đến? Con loài người là chi, mà Chúa thăm viếng nó?Và câu trả lời duy nhất là:vì Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng.Nhiều lần Kinh thánh nhắc đến lý do khiến Đức Chúa Trời Tạo Hóa hạ mình làm người là Chúa Jêsus chịu chết trên thập tự giá cứu người, Kinh thánh phán,Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài… Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Chúa Jêsus Christ vì chúng ta chịu chết… Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy: Đức Chúa Trời đã sai Con một Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống. Nầy, sự yêu thương ở tại đây: ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta (Giăng 3:16; Rô. 5:8; I Giăng 4:9-10).
Chỉ vì yêu thương con người, muốn cứu con người khỏi tối tăm, khỏi quyền lực của ma quỉ, khỏi tội lỗi, Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời Tạo hóa phải hạ mình chịu chết đền tội cho loài người. Kinh thánh phán:Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng (Giăng 13:1b).
II/. ĐIỀU THỨ 2 CẦN NÓI ĐẾN TRONG SỰ CHẾT CỦA CHÚA JÊSUS LÀ CHÚA JÊSUS ĐÃ ĐỔ SỰ SỐNG ĐỂ CỨU LOÀI NGƯỜI.
Kinh thánh ghi lại buổi tối cuối cùng trước khi Chúa Jêsus chịu chết đền tội cho nhân loại như sau:Trong cơn rất đau thương, Ngài cầu nguyện càng thiết, mồ hôi trở nên như giọt máu lớn rơi xuống đất (Luca 22:44).
Bây giờ chúng ta bước vào một cảnh trạng khác, không phải Chúa Jêsus với các môn đồ, mà Chúa Jêsus với quyết định dâng sự sống của Ngài để nhận lấy một cái chết sỉ nhục, đau thương. Trong giờ phút nầy, trước mắt của Chúa Jêsus là một thập tự giá mà kẻ bị treo trên đó là kẻ đã bị Đức Chúa Trời rủa sả, Kinh thánh phán:Chúa Jêsus Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã trở nên sự rủa sả vì chúng ta, - vì có lời chép: Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ (Gal. 3:13).
Tại ngày nay, sau khi Chúa Jêsus chịu chết trên thập tự giá, thì cây thập tự trở nên biểu tượng của tình yêu thương, nên nhiều người hãnh diện mang vác nó, nhất là khi thập tự giá được làm bằng bạc, bằng vàng, rồi còn chạm ngọc quý trên đó. Nhưng trước khi Chúa Jêsus chịu đóng đinh trên thập tự giá, thì cây thập tự là hình cụ ghê sợ dùng xử tử tội nhân tội nặng nhất mà địa vị lại hèn hạ nhất như nô lệ, thập tự bị khinh ghét và không ai dám đụng đến. Hiểu được như vậy, chúng ta mới hiểu sự tranh chiến trong Chúa Jêsus trước khi chấp nhận mang hết tội lỗi của loài người để chịu đóng đinh trên cây thập tự.
Kinh thánh diễn tả giờ phút tranh chiến đó rất ngắn gọn nhưng đầy cảm xúc:Trong cơn rất đau thương, Chúa Jêsus cầu nguyện càng thiết, mồ hôi trở nên giọt máu lớn rơi xuống đất.Và Chúa Jêsus quyết định:Ý Cha được nên! Chúa Jêsus bằng lòng chấp nhận chịu sỉ nhục, chịu rủa sả, chịu chết đau thương, chịu đổ sự sống của Ngài để cứu chuộc con người.
Nguyên nhân nào khiến Chúa Jêsus bằng lòng dâng mạng sống của Ngài nhận lấy thập tự giá? Câu trả lời duy nhất mà chúng ta có được là:vì Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng (Giăng 13:1b). Phải, chỉ vì Chúa Jêsus yêu thương chính Bạn và tôi!
Kinh thánh ghi lại rằng sau khi Chúa Jêsus hoàn tất chương trình cứu rỗi cho loài người qua sự chết và sự sống lại của Ngài, Chúa Jêsus đã thăng thiên về trời, có một người trẻ học thức lại có quyền thế đời nầy muốn bắt giết ai tùy ý, tìm cách chống lại Chúa Jêsus bằng cách đi nhiều nơi trong nước Y-sơ-ra-ên tìm người nào tin Chúa Jêsus thì bắt giam hoặc giết. Nhưng sau đó, người trẻ nầy phải nhìn nhận Chúa Jêsus Christ làĐấng đã yêu tôi, phó chính mình Ngài vì tôi (Gal. 2:20), và người trẻ nầy đã tình nguyện làm người rao truyền Tin Lành của Chúa Jêsus cho thế giới thời đó từ Trung Đông đến Âu Châu.
Từ đó đến nay trải qua gần 2 ngàn năm, có biết bao người đã cảm nhận được Chân lý Chúa Jêsus vì yêu thương đã bằng lòng dốc đổ sự sống của Ngài cho chính họ, họ đã nhận và đã được Chúa yêu thương, Bạn thính giả hãy nghe vài người nói lên cảm xúc vui sướng của họ:
Vì lòng yêu thương Chúa Jêsus đã đến,
Để đỡ linh hồn của chính tôi lên.
Từ hầm tội dục, nhục ô hôi thối, Chúa lấy yêu thương vực tôi.
Ngài vực tôi thoát khỏi chốn sập sình, dùng tay âu yếm cứu vớt thân, linh.
Hoặc:
Cứu người, Chúa vui mang thập hình, thế tôi, Chúa cam tâm hi sinh
Chính tôi biết lấy chi đền bồi tình yêu vô đối, ôi Chúa ôi!
Cũng có người viết nữa:
Lạy Jêsus ôi, tôi nay đáng chi Chúa yêu, mà Ngài hi sinh, thân báu phải đau thương nhiều. Trời cao bao nhiêu, nhân ái của Chúa bấy nhiêu, cứu tôi nên Chúa chịu gai, giáo, đinh khổ đau trăm chiều. Ôi tình thương! Ôi tình thương! Tình thương khiến Chúa hi sinh. Thế tôi thân Chúa đầy thương, cam chết trên thập hình.
Thưa Bạn thính giả, nếu bây giờ tôi yêu cầu Bạn viết lên cảm nghĩ của Bạn trước tình yêu thương quá cao vời của Chúa Jêsus đối với Bạn, Bạn sẽ viết thế nào? Có giống như cảm xúc của những người mà tôi đã ghi lại không? Xin Chúa ban cho Bạn một cảm xúc như vậy.
III/. ĐIỀU THỨ 3 CẦN NÓI ĐẾN TRONG SỰ CHẾT CỦA CHÚA JÊSUS
Chúng ta đã nghe Kinh thánh nói đến hai điều liên quan sự chết của Chúa Jêsus khiến sự chết dù là điều thường bị cấm kỵ, nhưng sự chết của Chúa Jêsus lại được hơn phân nửa dân số thế giới hằng năm nhắc đến với niềm vui, hãnh diện. Và bây giờ, điều thứ 3 liên quan đến sự chết của Chúa Jêsus luôn được Kinh thánh nhắc đến: Ấy là lòng nhịn nhục của Chúa Jêsus từ khi Ngài chịu chết đền tội cho nhân loại đến nay.
Chúng ta hãy nghe Kinh thánh nói về sự nhịn nhục của Chúa Jêsus để Ngài bằng lòng chịu chết đền tội cho nhân loại. Kinh thánh chép rằng:Bấy giờ, Phi-lát bắt Đức Chúa Jêsus và sai đánh đòn Ngài. Bọn lính đương một cái mão triều bằng gai, đội trên đầu Ngài, và mặc cho Ngài một cái áo điều. Đoạn, họ đến gần, nói với Ngài rằng: Lạy Vua dân Giu-đa! Họ lại cho Ngài mấy cái vả (Giăng 19:1-3)
Bây giờ chúng ta có một sự so sánh giữa hai đại lượng nữa:
Một bên là Bọn Lính:
Bọn lính là ai? Đây là những người lính La Mã đang đô hộ xứ Palestine, dĩ nhiên họ có một cái quyền nào đó, dù rất hạn chế, ít nữa là làm theo lịnh của Quan Tổng Đốc Toàn quyền La Mã lúc đó là Phi-lát. Bọn lính đã đánh đòn Chúa Jêsus bằng những ngọn roi da có móc sắt; bọn lính đã sỉ nhục Chúa Jêsus bằng cách đội trên đầu Ngài chiếc mão gai thay vì vương miện bằng vàng của một vua; bọn lính đã vả má của Chúa Jêsus.
Một bên là Chúa Jêsus:
Chúa Jêsus là ai? Ngài là Đức Chúa Trời Tạo Hóa vì yêu thương nhân loại, muốn cứu con người khỏi tội, khỏi quyền lực của ma quỉ; Chúa Jêsus là Đấng phán một lời sóng yên gió lặng; Chúa Jêsus là Đấng phán một lời thì người chết sống lại, thậm chí người đã chết 4 ngày đã có mùi hôi; Chúa Jêsus là Đấng phán một lời thì ma quỉ run sợ vâng lịnh Ngài; Chúa Jêsus là Đấng có thể ra lịnh cho 12 đạo thiên sứ. Bạn thính giả có biết thiên sứ có quyền năng như thế nào không? Kinh thánh cho biết chỉ cần một thiên sứ của Chúa đi ngang qua thì 185 ngàn quân của đạo quân bách chiến bách thắng của Đế quốc A-si-ri vào thế kỷ thứ 9 TC. đã ngã chết trong một đêm, thế mà Chúa Jêsus có quyền ra lịnh sai khiến 12 đạo thiên sứ như vậy.
Dù vậy, Kinh thánh cho chúng ta biết Chúa Jêsus đã im lặng như chiên câm trước mặt kẻ hớt lông, bằng lòng nhịn nhục chịu đựng để hoàn thành sự cứu rỗi cho loài người.
Cái gì đã khiến Chúa Jêsus nhịn nhục như vậy?
Câu trả lời duy nhất là:Vì Chúa Jêsus đã yêu thương kẻ thuộc về mình trong thế gian thì cứ yêu cho đến cuối cùng… (Giăng 13:1b).
Sở dĩ mỗi năm Hội thánh Tin Lành của Chúa Jêsus tổ chức Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus chịu thương khó, chịu chết đền tội cho nhân loại, không phải để thương khóc, không phải để cảm thương, mà để giới thiệu cho mọi người, trong đó có Bạn Thính Giả rằng: Đã có một Đức Chúa Trời Tạo hóa yêu thương Bạn, đã hạ mình đến thế gian chịu đổ sự sống để cứu Bạn khỏi tội lỗi, khỏi quyền lực của ma quỉ, là Chúa Jêsus Christ, và Ngài đã nhịn nhục bao niêu năm qua chờ Bạn quay về để ăn năn tội, tiếp nhận Chúa làm Đấng Cứu Thế của Bạn.
Chắc chắn sự nhịn nhục của Chúa cũng có giới hạn, đến một thời điểm nào đó, cánh cửa cơ hội tin Chúa Jêsus của chúng ta sẽ kết thúc, vì vậy, Kinh thánh phán:Kìa, hiện nay là thì thuận tiện; kìa hiện nay là ngày cứu rỗi… nếu ta còn trễ nải sự cứu rỗi lớn dường ấy, thì làm sao tránh cho khỏi được? là sự cứu rỗi Chúa đã truyền ra trước hết, rồi có những kẻ chịu nghe chứng nghiệm nó cho chúng ta (II Cô. 6:2; Hê. 2:3). Mùa Kỷ Niệm Chúa Jêsus chịu thương khó là cơ hội để Bạn ăn năn tội tin nhận Chúa làm Cứu Chúa của Bạn đó. Mong lắm thay!
Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email:
luaphucamhp@yahoo.com
Trang Hoithanhkienbai Blog:
Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..
Câu hỏi: Làm thế nào để biết chắc mình được cứu rỗi?
Đáp: Sự cứu rỗi không phụ thuộc vào cảm xúc, cảm giác, giấc mơ, … của chúng ta. Vì ma quỷ có thể kiểm soát hay ảnh hưởng đến cảm xúc của chúng ta. Còn sức khỏe, thời tiết, hoàn cảnh và môi trường … cũng ảnh hưởng đến cảm giác của chúng ta.
Sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta có bốn điều chính yếu để căn cứ vào đó mà biết chắc mình được cứu rỗi. Đó là:
Đức tin nơi Đức Chúa Giê-xu Christ đến cuối cùng([1])
Ma-thi-ơ 24: 1313 Nhưng kẻ nào bền chí cho đến cuối cùng, thì sẽ được cứu.
Trước khi tin Chúa, Đức Thánh Linh khiến chúng ta tự cáo về tội lỗi, bày tỏ cho chúng ta biết sự công bình và sự phán xét hầu đến. Bây giờ, sau khi tin Chúa chức vụ của Đức Thánh Linh, Ngài ở trong lòng mỗi tín hữu để yên ủi, dẫn dắt và ẤN CHỨNG [làm chứng] chắc chắn cho chúng ta rằng chúng ta [tôi] thuộc về Đức Chúa Trời.
Ê-phê-sô 1: 13- 1413 Ấy lại cũng trong Ngài mà anh em sau khi đã nghe đạo chân thật, là đạo Tin lành về sự cứu rỗi anh em, ấy là trong Ngài mà anh em đã tin và được ấn chứng bằng Đức Thánh Linh là Đấng Chúa đã hứa, 14 Đấng ấy làm của cầm về cơ nghiệp chúng ta, cho đến kỳ chuộc lấy những kẻ mà Ngài đã được để khen ngợi sự vinh hiển Ngài.
Xem Kinh Thánh Giăng 16: 7- 8; I Cô-rinh-tô 12: 3b; Ga-la-ti 4: 6; Rô-ma 8: 14
Lời Đức Chúa Trời làm chứng
I Giăng 5: 11- 1311 Chứng ấy tức là Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài. 12 Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống. 13 Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến danh Con Đức Chúa Trời.
Nếu ma quỷ đến và cám dỗ bạn nghi ngờ sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời ban mình, bạn hãy nhờ Đức Thánh Linh bằng đức tin công bố Lời Đức Chúa Trời và nhân Danh Chúa Giê-xu Christ mà đuổi ma quỷ đi thì nó sẽ chạy xa (Mác 16: 17).
Rô-ma 8: 33- 3433 Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời? Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy. 34 Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa, Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta.
Rô-ma 8: 37- 3937 Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần. 38 Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, 39 bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta.
Mác 13: 3131 Trời đất sẽ qua đi, song lời ta không bao giờ qua đâu.
Xem thêm Khải huyền 22: 6, Giăng 3: 16
Đời sống được thay đổi trong Đấng Christ
II Cô-rinh-tô 5: 17 17 Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới.
Chính mình và người xung quanh kinh nghiệm được sự thay đổi trong đời sống của mình và biết chắc rằng chính mình được cứu rỗi; và Đức Chúa Trời dùng lời Ngài [tức Kinh Thánh] qua chức vụ Đức Thánh Linh để thay đổi [quá trình nên thánh/ thánh hóa] chúng ta.
([1]) Đức tin đến cuối cùng là đức tin của bạn được thể hiện nơi Đức Chúa Giê-xu Christ ngay cả trong giây phút lâm trung [qua đời] của mình. Đức tin đến cuối cùng còn có nghĩa là khi Đấng Christ trở lại [tái lâm] thì Chúa còn thấy đức tin nơi Chúa ở chúng ta không. Trích: Quyển 2 GLNT- Bsoạn: Bùi Quý Đôn
Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email:
luaphucamhp@yahoo.com
Trang Hoithanhkienbai Blog:
Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..
Những bằng chứng về sự sống lại của Đức Chúa Giê-xu -1
(Được trích trong cuốn: Lẽ Thật Căn Bản- Tác Giả: Bùi Qúy Đôn)
C. Những bằng chứng sống lại của Chúa Giê-xu
1/ NGÔI MỘ TRỐNG LÀM CHỨNG
Thân thể Chúa Giê-su đã chôn trong thạch mộ tại vườn của người A-ri-ma-thê bên ngoài thành Giê-ru-sa-lem. Đây là một điểm về địa lý mà các dân thành Giê-ru-sa-lem gần đó dễ kiểm chứng Đức Chúa Giê-su sống lại để lại ngôi mộ đó. Ngôi mộ đã chôn Chúa Giê-su khi Ngài chết vẫn còn lại đến ngày nay tại Y-sơ-ra-ên, nhưng nó chỉ là một ngôi mộ trống, là di tích lịch sử để lại của Chúa khi Ngài sống lại và thăng thiên.
Sự kiện Chúa phục sinh là đề tài chính được công bố trong các bài giảng của các sứ đồ, là nền tảng của Cơ Đốc giáo. Vậy, ngôi mộ trống có phải là bằng chứng Chúa sống lại không ?
Giải thích: Chỉ có hai lối giải thích cho ngôi mộ trống: Hoặc là Chúa thật đã sống lại, hoặc là có ai [(1) giới cầm quyền, (2) kẻ trộm, (3) các môn đồ của Chúa Giê-su] đã lấy trộm xác Chúa.
1. Giới cầm quyền không lấy trộm xác Đức Chúa Giê-su:
Vì khi các sứ đồ rao giảng rằng Chúa đã sống lại, họ chỉ cần đem xác Chúa cho công chúng xem thì Cơ Đốc giáo đã phải chấm dứt ngay. Nhưng họ đã không thể làm điều đó vì họ không có xác Chúa.
Vậy, giới cầm quyền không thể là nhóm lấy trộm xác Chúa.
2. Kẻ trộm không lấy trộm xác Đức Chúa Giê-su:
Kẻ trộm chỉ lấy cắp những gì có giá trị đối với họ. Trong ngôi mộ của Chúa, điều có giá trị đối với kẻ trộm chỉ là tấm vải liệm và hương liệu, còn xác chết đối với họ không những vô giá trị mà còn là điều ghê tởm ô uế. Mặt khác nữa, binh lính La-mã đã chu toàn nhiệm vụ để canh gác mộ chôn xác Chúa [Mathiơ 27:65 _ theo các nhà thần học nghiên cứu chữ Hy-lạp thì ‘lính canh’ trong câu 65 là koustwdi, an = đội lính gồm có 16 người chia làm 4 phiên, mỗi phiên canh là 4 người và còn 12 người khác thì được nghỉ ngơi ở trước bất cứ thứ gì được nhiệm vụ canh giữ]. Vì thế, kẻ trộm không thể nào hoặc khó có thể vượt qua các binh lính La mã mà lăn tảng đá nặng 2000 kg để vào trong mộ chỉ lấy trộm một cái xác chết [thứ được cho là ghê tởm, ô-uế, không giá trị], vì tại mộ Chúa vải liệm vẫn còn mà xác Chúa thì mất.
Tóm lại kẻ trộm cũng không lấy trộm xác của Chúa Giê-su. Còn nhóm thứ ba nghi ngờ lấy trộm xác Ngài là các môn đồ của Ngài. Chúng ta cùng nhau xem xét:
3. Môn đồ cũng không lấy trộm xác Chúa:
Nếu họ lấy trộm xác Chúa thì họ biết chắc Chúa đã chết. Trong khi chính họ đã xác quyết mạnh mẽ rằng Chúa đã sống lại vì họ đã được thuyết phục với những bằng cớ rõ ràng về Chúa sống lại.
Hơn nữa, họ đã sẵn sàng liều chết khi bị bắt bớ vì đã rao truyền sự kiện Chúa sống lại. Không ai chịu chết cho một sự giả dối vô ích. Vì thế, sự kiện các môn đồ liều mạng sống mình chịu chết rao giảng sự kiện Chúa sống lại chứng tỏ họ đã thành thật tin như thế.
Vì vậy, môn đồ không thể lấy trộm xác Chúa.
Lối giải thích duy nhất cho ngôi mộ trống là Chúa đã sống lại.
NHỮNG CÂU CHUYỆN XUNG QUANH NGÔI MỘ:
a. Dấu ấn niêm phong trên tảng đá của người La-mã không còn nữa.
Đế Quốc La-mã là một Đế Quốc hùng mạnh nhất trong thời kì Chúa Giê-su ở trên đất vào thế kỉ thứ nhất. Dấu ấn của La-mã tượng trưng cho quyền lực mạnh mẽ mà không một nhóm người hay một tổ chức nào có thể ngăn cản, phá vỡ được của Đế Quốc La-mã. Bất kì ai có hành vi ngăn cản, chống đối, phá vỡ hay không chu toàn nhiệm vụ của mình được giao thì sẽ nhận lãnh án tử hình. Nhưng không may thay, dấu ấn liêm phong đó không có quyền lực gì để giữ được Đức Chúa Giê-su lại ở bên trong mộ. Dấu ấn đã bị vỡ ra bởi một Quyền Lực mạnh hơn, lớn hơn- đó chính là Quyền phép của Ngài. Mathiơ 28:1-4 ‘Sau ngày Sa-bát là ngày đầu tiên trong tuần. Sáng sớm hôm ấy Ma-ri Ma-đơ-len và một người đàn bà khác cũng tên Ma-ri đến thăm mộ.Khi họ đến đó, thình lình có cơn động đất dữ dội. Một thiên sứ của Chúa từ trời xuống lăn tảng đá chặn cửa mộ rồi ngồi lên trên. Hình dạng thiên sứ ấy sáng rực như chớp, áo trắng như tuyết. Những lính canh hoảng hốt và đứng lặng người như chết khi thấy thiên sứ.’
Lính canh người La-mã rất sợ mất mạng sống mình vì họ biết rằng nếu họ không chu toàn trên chức vụ của họ thì họ sẽ bị tử hình. Do đó họ thấy tảng đá được liêm phong bị lăn ra và thấy có thiên sứ ‘sáng rực như chớp, áo trắng như tuyết’ của Chúa ngồi lên trên thì hoảng hốt kinh hãi trở nên như người chết. Những lính canh này không buồn ngủ trong lúc canh mộ [Mathiơ 28:11-13 cho thấy binh lính canh mộ còn thuật lại cho các thầy tế lễ cả tất cả mọi điều mà chính mắt họ nhìn thấy và tai họ đã nghe được]. Vậy không có ai lấy xác Ngài mà chính Đức Chúa Giê-su đã sống lại từ kẻ chết. Sự sống lại của Chúa Giê-su Christ là một sự thực không thể chối cãi được.
b. Hòn đá đã bị dời đi.
Chúng ta đã được biết hòn đá lớn lăn chặn cửa mộ [Mathiơ 27:60, Mác 16:4] nặng 2000 kg (theo sự giải thích thần học qua chữ Hy-lạp li, qoj me, gaj _ Mathiơ 27:60 và me, gaj sfo, dra_ Mác 16:4); được liêm phong bằng con dấu của giới cầm quyền La-mã [Mathiơ 27:57-66], được lăn xuống đường dốc tới mộ khớp vào trong rãnh của cửa mộ và nó cũng không có chốt của bên trong để đẩy hòn đá từ trong ra ngoài. Dù có chốt cửa đi nữa thì với tảng đá nặng như vậy, với địa thế của nó và binh lính canh mộ La-mã bên ngoài thì không thể lăn hòn đá ra khỏi cửa mộ mà binh lính không biết. Hòn đá được rời đi bởi quyền phép của Đấng Toàn Năng.
Phần này giải thích ý kiến nói rằng ‘Chúa Giê-su không chết trên thập tự giá mà chỉ bị ngất do đau đớn quá và bị mất máu nhiều. Rằng Ngài sẽ được hồi tỉnh bởi mộc dược [100 kg] và không khí mát mẻ ở trong mộ’_là SAI. Vì Chúa Giê-su không thể lăn được hòn đá nặng 2000 kg ở vị trí như thế với thân hình thương tật và xanh xao. Chỉ có duy nhất quyền phép của Đấng Toàn Năng thì hòn đá nặng như vậy mới bị dời đi và quân lính La-ma canh mộ bị bắt phục mà thôi.
c. Ngôi mộ trống. Ngôi mộ không thấy dấu tích của xác chết.
Có người cho rằng ‘mấy người đàn bà và các môn đồ đã đến nhầm mộ.’ Nhận định này rất dễ dàng bị gạt bỏ nếu chúng ta dành 5 phút suy nghĩ về nó.
- Thứ nhất, bạn không thể nào nhầm mộ người thân yêu của mình mới sau hai ngày không? (Chúa được an táng từ chiều thứ 6, chôn trong mộ và ngày Chủ nhật mấy người đàn bà và các môn đồ đến thăm _ Mathiơ 28:1, Giăng 20)
- Thứ hai, bạn biết người ta chôn xác Chúa Giê-su không phải trong nghĩa trang của Giô-sép người A-ri-ma-thê mà là được chôn trong ngôi mộ trong vườn riêng của ông [Giăng 19:41, Mathiơ 27:59…].
- Thứ ba là đến nhầm mộ khác mà họ (Giăng và Phi-e-rơ) thấy tấm vải liệm thân Chúa màu trắng nằm trong mộ được xếp lại cách hẳn hoi [Giăng 20: 3-10].
- Điều thứ tư, ừ cho rằng họ đến nhầm mộ đi chăng nữa thì tại sao họ nghe thấy tiếng thiên sứ nói với họ rằng: ‘Ngài [Chúa Giê-su] không ở đây đâu; Ngài sống lại rồi. Hãy đến xem chỗ Ngài nằm’ [Mathiơ 28:5-6]. Bạn đừng nói với tôi rằng thiên sứ của Đức Chúa Trời cũng nhầm mộ nhé!
Thật là buồn vì chính những nhà thông thái hiểu biết lại đưa ra lý luận đó. Thật một lý luận vô nghĩa.
d. Vải liệm được sắp xếp cách hẳn hoi [Giăng 20:3-7].
Giăng và Phi-e-rơ là hai môn đồ của Chúa Giê-su đều chạy đến mộ Chúa Giê-su Christ khi nghe thấy tin về mộ không có xác Chúa [Giăng 20:1-9]. Giăng đến mộ trước thấy vải liệm bỏ xuống đất, nhưng không vào. Còn Phi-e-rơ vào mộ thấy vải liệm ở đó cùng khăn liệm quấn quanh đầu của Chúa Giê-su. Lớp vải được xếp lại và đặt riêng ra cách hẳn hoi. Môn đồ Giăng liền tiến lại gần và nhìn thấy vải cùng khăn liệm thì tin. Vải liệm đã thuyết phục môn đồ Giăng rằng Chúa Giê-su đã sống lại từ kẻ chết. Chúa Giê-su đã trở lại với sự sống trong một trạng thái khác, thân thể Chúa sống lại đó đi qua các vải liệm mà không cần phải gỡ ra như La-xa-rơ [Giăng 11:44], và bước vào nhà không cần qua cửa [Giăng 20:19-21], thân thể đó cũng rờ chạm được [Giăng 20:27-29, Mathiơ 28:8-9], và thân thể đó cũng thoạt biến mất không thấy nhìn được nữa [ Lu-ca 24:30-31].
Phần này cho thấy rằng ý kiến ‘kẻ trộm muốn lấy cắp xác của Chúa Giê-su’_ là Không Thể Được. Vì như phần trên chúng ta thấy kẻ trộm không thèm lấy xác chết của một người vì nó không giá trị mặc dù cái giá trị nhất là vải và khăn liệm để lại trong đất nước Do Thái bấy giờ. Ừ, dù theo một số ý kiến ngày nay ở một số nơi cho rằng xác chết như Thầy Giê-su là quý, ‘kẻ trộm’ vẫn ăn cắp thân xác Chúa vì cho là quý hơn vải liệm_ thì điều đó vẫn không thể xảy ra. Vì thi hài của Chúa Giê-su đã được liệm với một lượng nhựa dính trộn với 100 kg một dược. Lớp một dược này bám dính với nhau và dính chặt vào thi hài. Điều này khiến cho việc tháo lớp vải liệm ra là rất khó. Nếu ‘kẻ trộm’ đến chỉ ăn cắp xác Chúa thì hẳn sẽ chẳng có nhiều thời giờ để tháo từng lớp vải cùng với lớp dính một dược ra, rồi lại sắp xếp vải liệm một cách hẳn hoi, đàng hoàng và đặt chúng bên trong mộ như thế được! Vì chính sự hẳn hoi thứ tự của vải liệm đã khiến sứ đồ Giăng tin Lời Chúa phán về sự sống lại của Ngài là đúng [Giăng 20:8-9]. Điều này một lần nữa khẳng định rằng Chúa Giê-su Christ đã sống lại không thể chối cãi được.
e. Tiếng đồn dối trá của những người lính La-mã canh mộ Chúa Giê-su [Mathiơ 28:11-15]
Tại sao chúng ta biết tiếng đồn trong thiên hạ bởi những người lính La-mã canh mộ Chúa Giê-su là dối trá? Bởi họ đồn rằng: ‘Khi chúng tôi ngủ thì môn đồ đã đến để trộm lấy thân xác nó đi’ [Mathiơ 28:15]. Điều này tôi đã từng nói rồi, có hai khả năng chính sau đây:
- Thứ nhất là về lính canh người La-mã: Lính canh người La-mã biết rằng khi mình không làm tròn nhiệm vụ canh giữ theo sự đã được ra lệnh thì chắc chắn sẽ bị lãnh án tử hình bởi Hoàng Đế La -mã. Điều này ai ai cũng biết trong thời đó. Vậy lý do nào khiến họ đi được khắp nơi để rao báo sự dối trá đó? Bởi vì chúng đã được cam kết với các thầy tế lễ cả rằng: khi điều đó [là điều: chúng tôi ngủ khiến bị mất cắp] đồn đến quan tổng đốc, thì chúng ta [các thầy tế lễ cả] sẽ bênh vực cho nên không còn sợ chi nữa [Mathiơ 28:14] = giữ được mạng sống trước Hoàng đế La-mã; và lính canh còn nhận được nhiều tiền hối lộ bởi các thầy tế lễ cả, để nói chuyện đó nữa [Mathiơ 28:12,15]= được lợi nhuận lớn à hai điều đó đã đủ để khiến bọn linh canh không sợ hãi đồn tin dối trá đó khắp nơi và còn vang vọng đến ngày nay [Mathiơ 28:15].
- Thứ hai về các môn đồ của Chúa Giê-su: Các môn đồ của Chúa Giê-su đã sẵn sàng liều chết khi bị bắt bớ vì cớ đã rao truyền sự kiện Chúa sống lại giữa công chúng. Không ai chịu chết cho một sự giả dối vô ích. Vì thế, sự kiện các môn đồ liều mạng sống mình chịu chết rao giảng sự kiện Chúa sống lại chứng tỏ họ đã thành thật tin Chúa Giê-su đã sống lại từ cõi chết.
Vì vậy, tiếng đồn đó là dối trá và môn đồ không lấy trộm thi hài Chúa trong mộ. Mà chính Chúa Giê-su sống lại từ cõi chết_ đó là chân lý đúng hoàn toàn không ai chối cãi và hoài nghi được.
2/ NHỮNG LẦN HIỆN RA CỦA NGÀI LÀM CHỨNG
Điều đáng lưu ý ở đây, Chúa Giê-su sống lại từ kẻ chết, Ngài không biến mất, mà Ngài đã hiện ra ít nhất 11 lần tiếp xúc trực tiếp với các môn đồ. Các môn đồ cũng không phải là người dễ tin thậm chí họ cũng nghi ngờ, hoài nghi về sự sống lại của Chúa Giê-su [Mác 6:10, 11, 13, 14] như trong họ có người thấy Chúa Giê-su sống lại thì ngỡ là ma, người thì đòi phải chạm vào vết dấu đinh đâm, sườn bị đâm của Ngài thì mới tin. [Họ là những chứng nhân sống chứng minh Chúa Giê-su Christ sống lại]. Điều này một lần nữa khẳng định rằng Chúa Giê-su đã sống lại từ kẻ chết, Ngài thật là Đức Chúa Trời và là Cứu Chúa của những ai tin thờ Ngài.
A- Vào ngày thứ nhất_ Ngày Chúa nhật Chúa Sống lại [Phục Sinh]
Số lần hiện ra
Thời gian hiện ra
Sự kiện
Địa điểm Chúa Giê-su hiện ra
Kinh Thánh trưng dẫn
1/ Sự sống lại của Chúa Giê-su lúc tưng tưng [mờ mờ] sáng.
Mathiơ 28:2-4
2/ Mấy người đàn bà (1) thấy ngôi mộ trống. Còn Ma-ri Ma-đơ-len trở về thuật lại cho Phi-e-rơ và Giăng biết.
Mathiơ 28:1; Mác 16:1-4; Luca 24:1-3
Giăng 20:1-2
3/ Mấy người đàn bà gặp thiên sứ nói về sự sống lại của Đức Chúa Giê-su Christ.
Mathiơ 28:5-6; Mác 16:5-7; Lu-ca 24:4-8
Lần 1
Sáng sớm CN
4/ Ma-ri Ma-đơ-len trở lại mộ. Chúa Giê-su đã tỏ mình cho nàng thấy.
Bên ngoài mộ
Mác 16:9-11;
Giăng 20:11-18
Lần 2
Sáng sớm CN
5/ Chúa Giê-su gặp mấy người đàn bà trên đường họ trở lại thành Giê-ru-sa-lem (báo tin Chúa sống lại theo lời các thiên sứ).
Trên đường đến thành Giê-ru-sa-lem
Mathiơ 28:8-10
Mác 16:8;
Lu-ca 24:9-11
6/ Phi-e-rơ và Giăng chạy đến mộ thấy ngôi mộ trống.
Lu-ca 24:12; Giăng 20:3-10
7/ Sự báo cáo của lính canh La-mã đối với thầy tế lễ cả, tin đồn dối trá.
Mathiơ 28:11- 15
Lần 3
Sáng CN
8/ Phi-e-rơ gặp Chúa Giê-su sống lại, khi ông và Giăng đi đến mộ và trở lại thành.
Thành Giê-su-sa-lem
Lu-ca 24:34; ICô-rinh-tô 15:5
Lần 4
Buổi chiều (2)CN
9/ Cơ-lê-ô-ba và người bạn trên đường đến Em-ma-út.
Trên đường về quê là Em-ma út
Lu-ca 24:13-35; Mác 16:12-13
Lần 5
Gần chiều muộn (3)CN
10/ Chúa hiện ra cho các môn đồ không có Thô-ma.
Phòng cao tại Giê-ru-sa-lem
Mác 16: 14; Lu-ca 24: 36- 49; Giăng 20: 19- 23
B- Những lần hiện sau này [sau ngày Chúa Phục Sinh ]:
Số lần hiện ra
Sự kiện
Địa điểm Chúa Giê-su hiện ra
Kinh Thánh trưng dẫn
Lần 6
Tối ngày Chủ nhật tuần sau, Chúa Giê-su hiện ra cùng các môn đồ trên phòng cao một lần nữa có cả Thô-ma.
Tại phòng cao tại Giê-ru-sa-lem
Giăng 20: 24-29
Lần 7
Tầm bình minh, Chúa tỏ mình ra cho 7 môn đồ đang đánh cá ở tại nơi bờ biển Ti-bê-ri-át.
Vùng Ga-li-lê
Giăng 21:1-6
Lần 8
Chúa Giê-su gặp mười một sứ đồ tại Ga-li-lê mà Ngài đã hẹn gặp khi sống lại và Ngài ban Đại Mạng Lệnh.
Vùng Ga-li-lê
Mathiơ 28:16- 20; Mác 16:14-18
Lần 9
Hơn 500 người nhìn thấy Chúa Giê-su cùng một lúc (4).
Trên núi vùng Ga-li-lê
Mathiơ 28:16
ICô-rinh-tô 15:6
Lần 10
Gia-cơ gặp Chúa, sau đó hết thảy các sứ đồ (5).
Không rõ địa điểm
Công vụ 1:3-8
ICô-rinh-tô 15:7
Lần 11
Sự thăng thiên, 40 ngày sau Chúa Giê-su Phục Sinh [Chúa Sống Lại].
Trên núi Ô-li-ve gần Bê-tha-ni vùng Giê-ru-sa-lem
Mác 16:19-20
Lu-ca 24:50-53
Công vụ 1:9-11
Chúa Cứu Thế Giê-su Phục Sinh còn hiện ra với Phao-lô_một kẻ chuyên bách hại Hội Thánh [ICô-rinh-tô 15:6]; với sứ đồ Giăng ở đảo Bát-mô (Khải huyền 1)và Ê-tiên đã thấy Chúa Phục Sinh ở thiên đàng vinh hiển (Công vụ 7:55).
Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email:
luaphucamhp@yahoo.com
Trang Hoithanhkienbai Blog:
Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..