Hôm nay:

BÀI VIẾT- BÀI LUẬN- GHI CHÚ

Xem tất cả Các bài luận- viết »

ĐỜI SỐNG CƠ ĐỐC

Xem tất cả Đời sống Cơ Đốc»

CHUYÊN MỤC HỎI ĐÁP

Xem tất cả Câu hỏi đáp »

.
THƯ MỤC BẠN MUỐN XEM: TIN LÀNH LÀ GÌ
Hiển thị các bài đăng có nhãn TIN LÀNH LÀ GÌ. Hiển thị tất cả bài đăng

Người Việt Nam với Khái Niệm về "Ông Trời"

Đăng bởi Bùi Qúy Đôn | Thứ Ba, 16 tháng 12, 2014








Chương 1

Người Việt Nam với Khái Niệm về "Ông Trời"

Từ lâu người Việt Nam đã biết có Ông Trời, tin Ông Trời và cầu khẩn Ông Trời. Niềm tin nầy vốn có trong tiềm thức của người dân Việt ngay cả trước khi có các tôn giáo khác du nhập vào nước ta. Niềm tin nầy thể hiện qua ngôn ngữ và qua nếp sống của chúng ta.

Kêu Trời
Ðiều dễ hiểu nhất và không ai phủ nhận được là hễ gặp bất cứ việc gì bất chợt xảy đến, dù vui hay buồn, dù tốt hay xấu, câu nói buột miệng của người Việt Nam trước hết là kêu: "Trời ơi!" giống như người Mỹ kêu: "Oh my God!"
Khi rủi ro đứt tay, vấp chân, té ngả, người ta kêu Trời. Khi gặp buồn khổ, chán nản, chết chóc, thất bại, người ta kêu Trời. Khi thành công, hạnh phúc, bình an, người ta nói Nhờ Trời. Khi gặp tai nạn người ta kêu Trời cứu, cầu Trời cho tai qua nạn khỏi...

Kính Trời
Tuy không biết rõ Ông Trời là Ðấng như thế nào, nhưng người Việt Nam ai cũng kính Trời vì hiểu rằng có ta đây là vì có Ông Trời. Trong ngôn ngữ bình dân, dù là câu nói vui đùa, mỗi khi xưng hô nhắc đến Trời thì người ta không dám nói thiếu chữ Ông đi trước chữ Trời. Người ta gọi Ông Trời với lòng tôn kính. Người Tin Lành tôn thờ Ngài nên gọi Ngài là Ðức Chúa Trời.

Một cô gái quê vui đùa hỏi bí bạn trai:
Thấy anh hay chữ
Em hỏi thử đôi lời
Thuở tạo thiên lập địa
Ông Trời tròn ai xây?

Cầu Trời
Người Việt phần lớn sống bằng nông nghiệp, biết rằng mùa màng được hay mất cũng do Trời.
"Nhờ Trời năm nay được mùa!"
Người nông dân lúc nào cũng tâm nguyện cầu Trời cho cơm no áo ấm:
Lạy Trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy đầy bát cơm...

Hoặc họ truyền tụng về ơn Trời bằng những câu ca dao, bài hát bình dân:
Nhờ Trời mưa thuận gió hòa
Nào cày nào cấy trẻ già đua nhau.

Lạy Trời mưa thuận gió đều
Cho đồng lúa tốt, cho chiều lòng em.

Người Việt thường tôn trọng chữ hiếu và mong cho cha mẹ sống lâu, gia đình được phước. Vì thế họ lập bàn thờ Thiên để thờ Trời ngay trước cửa nhà. Người con có hiếu từng đêm đến trước bàn thờ cầu khẩn:
Mỗi đêm mỗi thắp đèn Trời
Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

Tin Trời
Trải bao đời, người Việt tin Ông Trời là Ðấng Tạo Hóa, tạo thiên lập địa, Ðấng cầm quyền sống chết, làm chủ vận mệnh muôn loài, quyền phép vô cùng. Người Việt Nam quen thuộc với những khái niệm:
Thiên sinh vạn vật, duy nhân tối linh.
Ðại phú do Thiên, tiểu phú do cần.
Trời sinh voi sinh cỏ.
Trời cho ai nấy hưởng.
Trời kêu ai nấy dạ.
Sống nhờ ơn Trời, chết về chầu Trời.

Cũng có câu: "Trời cho không ai thấy, Trời lấy không ai hay."

Người Việt công nhận và tin tưởng Ông Trời cầm quyền thành bại trong cuộc sống của loài người:
Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên.

Người Việt tin Trời là Ðấng công bình, cầm quyền họa phúc, vì vậy đã thường nhắn nhủ với nhau:
Ở hiền thì lại gặp lành
Những người nhân đức Trời dành phúc cho.

Người Việt cũng tin tưởng "Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân," nghĩa là Trời không phụ bạc người có lòng tốt bao giờ.

Trong hôn nhân lứa đôi, người Việt tin tưởng hạnh phúc vợ chồng do Ông Trời sắp đặt:
Duyên ba sinh Trời đã sẵn dành.

Khi thấy số phận không may hoặc tình duyên dang dở người ta thường ngửa mặt lên trời than thở, dường như muốn nói với Ðấng Hóa Công hết nỗi lòng mình:
Chữ bạc mệnh ai ơi thấu với
Câu đa đoan Trời hỡi thấu chăng?
(trong Tự Tình Khúc của Cao Bá Nhạ).

Trong Cung Oán Ngâm Khúc cũng có câu:
Quyền họa phúc Trời giành mất cả
Chút tiện nghi chẳng trả phần ai.

Thi hào Nguyễn Du đã khuyên trong Truyện Kiều:
Ðã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa
Thiện căn tự bởi lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

Kết luận Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết:
Ngẫm hay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Nhờ Trời
Lịch sử Việt Nam có ghi chép chuyện về Danh Tướng Lý Thường Kiệt, trong lúc kháng cự quân Tống xâm lăng, đã làm 4 câu thơ và loan truyền là do Thần Linh báo mộng ban cho để khích lệ tinh thần binh sĩ yên tâm đánh giặc:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Học giả Hoàng Xuân Hãn đã dịch như sau:
Sông núi nước Nam vua Nam coi
Rành rành một phận ở sách Trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Bây sẽ tan tành, chết sạch toi.

Ðây là cách áp dụng chiến tranh tâm lý, mượn oai Trời. Kết quả là quân lính nức lòng đánh giặc, quân Tống không tiến được đành giảng hòa. Rõ ràng câu chuyện nầy nói lên niềm tin mãnh liệt của dân tộc Việt nơi sự tể trị của Ông Trời, trong đó mọi vận mệnh nhân dân đất nước do Trời định đoạt.
Nước non là nước non Trời
Ai chia được nước ai dời được non.

Thờ Trời
Trải qua nhiều thế kỷ, ngay cả sau khi có các triết lý tôn giáo của Khổng Giáo, Lão Giáo và Phật Giáo truyền đến, người dân Việt vẫn lấy tín ngưỡng thờ Trời làm nền tảng để giữ gìn truyền thống dân tộc, gia đình. Cả ba tôn giáo chính nói trên đã góp phần củng cố thêm cho niềm tin hợp với Ðạo Trời. Ngay cả Phật Giáo với khái niệm mờ nhạt về Ông Trời khi đến Việt Nam cũng phải chấp nhận ý niệm "Cầu Trời Khẩn Phật".
Hợp lẽ Trời, thuận lòng người là đạo lý của người Việt Nam. Dù thực hành tín ngưỡng nào, người Việt ai nấy cũng công nhận: "Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong" nghĩa là thuận với Trời thì còn, nghịch với Trời thì mất.
Chính vì đó mà người dân Việt thờ Trời. Ngay từ thời các Vua Hùng dựng nước, người ta đã biết thờ Trời. Mỗi năm nhà Vua thay mặt nhân dân lập đàn Tế Trời, Cầu Trời cho dân chúng an cư lập nghiệp. Trong gia đình, người cha thay mặt để cầu Trời phù hộ cho gia đình, con cháu hạnh phúc. Các triết lý du nhập vào từ Trung Quốc hoặc Ấn độ đã không đồng hóa hoàn toàn tín ngưỡng của người dân Việt. Trái lại những tín ngưỡng nào phù hợp với tình cảm thiêng liêng trong sáng của người dân Việt thì được tiếp thu với tinh thần chọn lọc, phê phán.
Chịu ảnh hưởng của đạo đức Lão Trang, người Việt thường bảo nhau về cách ăn ở cho phải đạo, nhất là đạo làm con, đạo vợ chồng:
Ðạo làm con chớ hững hờ
Phải đem hiếu kính mà thờ mẹ cha.

Cây xanh thì lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.

Người trồng cây hạnh người chơi
Ta trồng cây đức để đời mai sau.

Người Việt Nam cũng tiếp thu truyền thống giữ gìn "luân thường đạo lý" của Khổng Giáo thật nhuần nhuyễn và bình dị như cuộc sống gần gũi lễ phép thân thương kính trên nhường dưới trong gia đình. Luân là cái mà con người phải noi theo trong mối tương quan xã hội. Thường là sự việc không biến đổi theo không gian và thời gian mà con người phải giữ. Trong Ngũ luân với quan hệ quân thần, phụ tử, phu thê, huynh đệ, bằng hữu, người Việt trân trọng những đức tính Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa. Trong Ngũ thường, người Việt trân trọng giữ gìn nhân, nghĩa, lễ, trí, tín theo đạo lý làm người.
Anh làm trai học đạo thánh hiền
Năm hằng chẳng trễ, ba giềng chớ sai.

Chữ hiếu được mọi người đặt lên hàng đầu:
Nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên
Chữ rằng mộc bổn thủy nguyên
Làm người phải biết tổ tiên ông bà.

Bổn phận hiếu đễ được minh giải thêm:
Thờ cha mẹ ở hết lòng
Ấy là chữ hiếu ở trong luân thường
Chữ đễ có nghĩa là nhường
Nhường anh, nhường chị, lại nhường người trên
Ghi lòng tạc dạ chớ quên
Con em phải giữ lấy nền con em.

Trong tinh thần phê phán chọn lọc, người Việt đã phân biệt chân giả, đúng sai trong từng tín ngưỡng thực hành. Chẳng hạn:
Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ cha kính mẹ mới là chân tu.

Hoặc ai nấy đều đồng ý:
Dẫu xây chín bậc phù đồ
Không bằng làm phước cứu cho một người.

Người Việt Nam phần lớn không tin ở thuyết luân hồi. Bằng cớ là nhiều người Việt thờ cúng ông bà, tin rằng vong linh ông bà vẫn còn đó. Mỗi năm nhân dịp Tết cổ truyền, người ta rước ông bà về vui xuân với con cháu rồi tiễn ông bà đi. Nếu tin ở thuyết luân hồi thì phải tin ông bà cha mẹ đã hóa kiếp thành người ngoại quốc nào khác, hoặc con thú nào đó trong rừng, hoặc một con vật nào đó trong bầy gia súc trong vườn. Tin như thế, người ta sẽ không rước tiễn ông bà, cũng không dám ăn thịt , đánh đập hoặc giết chết một con vật nào. Người Việt Nam tin ở giá trị thiêng liêng bất tử của linh hồn, tin ở đời sau. Linh hồn của mọi người chết là về chầu Trời.
Người Việt Nam là dân tộc hiền hòa nhưng bất khuất. Lúc có cần ai nấy đều có thể chịu đựng hy sinh vì nghĩa lớn. Trong quan hệ bình thường, người Việt áp dụng tinh thần dĩ hòa vi quí. Trong cuộc sống với nhiều điều không lý giải được, người Việt vẫn tin tưởng ở mệnh Trời, hy vọng một ngày mai tươi sáng hơn.
Không ai giàu ba họ
Không ai khó ba đời.

Còn trời còn đất còn non nước
Có lẽ ta đâu mãi thế nầy?

Người Việt tin tưởng và yêu chuộng những nguyên tắc như:
Ở hiền gặp lành,
Ông Trời có con mắt,
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo,
Lưới Trời lồng lộng, thưa mà không lọt,
Thiên bất dung gian.

Người Việt quí trọng và ao ước những giá trị Trời ban như thiên ân, thiên tài, thiên bẩm, thiên chức, thiên hương, thiên tướng, thiên tư. Người Việt giữ gìn truyền thống tương thân tương trợ những khi tối lửa tắt đèn.
"Bà con xa không bằng láng giềng gần."

Câu tục ngữ "Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng," đã được đem ra áp dụng thường xuyên trong những lúc hoạn nạn, tai ương với nhiều kết quả tốt đẹp.
Trong quan hệ giữa người với người, người Việt luôn luôn giữ lấy chữ tình:
Phàm sự lưu nhân tình
Hậu lai hão tương kiến.
Chính nhờ đó mà dân Việt Nam muôn đời vẫn còn tồn tại.

Người Việt hiểu biết về "Ông Trời" chưa đầy đủ
Giống như nhiều dân tộc khác trên thế giới, sự nhận biết về Ðức Chúa Trời có thể nói là một thứ nguyên tri tự nhiên mà Ông Trời ban cho nhân loại. Dân tộc nào cũng có chữ Ông Trời hay Ðấng Tạo Hoá trong ngôn ngữ mẹ đẻ của mình.
Thật vậy, khi nhìn xem vạn vật, thiên nhiên, với cảnh trí đẹp đẽ tuyệt vời, với không gian bao la vô tận, với sự cấu tạo tinh vi, diệu kỳ, muôn hình vạn trạng, với qui luật bốn mùa xuân hạ thu đông trật tự chính xác vô cùng, với bản năng lạ lùng bất biến của các loài vật... rồi nhìn lại con người với thân thể kỳ diệu, với mầu nhiệm sinh sản, với tình cảm thiêng liêng, với những giá trị tinh thần, với những kinh nghiệm về qui luật đạo đức trải qua các đời, với ý chí tự do lựa chọn... cùng với bao nhiêu chứng cớ khác nữa trong cuộc sống, người ta phải thừa nhận có Ðấng Tạo Hóa, có Ông Trời. Chính Ông Trời đã tạo dựng nên tất cả, Ngài đang điều khiển, bảo tồn tất cả những qui luật thiên nhiên và đạo đức trên thế giới nầy.
Nhưng thiên nhiên chưa đủ để con người biết rõ về thuộc tánh, ý muốn và chương trình vĩnh cửu của Ðức Chúa Trời. Bởi trong thực tế khi nhìn thiên nhiên có người suy luận hữu thần, có người suy luận phiếm thần, hoặc có người suy luận đa thần, thậm chí cũng có người suy luận vô thần. Thiên nhiên chưa đủ để người ta biết rõ Ðức Chúa Trời thực hữu độc lập với các tạo vật do Ngài dựng nên và Ngài là Chân Thần Duy Nhất.
Người Việt biết có Ông Trời nhưng chưa biết Ðức Chúa Trời là Chân Thần, là Ðấng Tạo Hoá duy nhất tối cao.
Người Việt biết Ông Trời có bản tính công bình nhưng chưa biết Ðức Chúa Trời là Ðấng đầy ân điển và yêu thương.
Người Việt tin mệnh Trời không ai thay đổi được, kể cả số phận của mỗi người cũng được an bài, nhưng người Việt chưa biết Ðức Chúa Trời là Ðấng tôn trọng ý chí tự do của con người và là Ðấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.
Người Việt biết mình cần ăn hiền ở lành, nhưng không biết rằng tất cả những việc lành mình làm dù cao quí vẫn còn thiếu hụt, không thể sánh với tiêu chuẩn trọn lành Ðức Chúa Trời đòi hỏi, chẳng khác nào ngọn đèn cầy đem so với ánh mặt trời. Người Việt cần đón nhận chân la của Chúa để bù đắp cho sự thiếu hụt của mình.
Người Việt biết nguyên tắc "Thiện ác đáo đầu chung hữu báo" nhưng không biết căn nguyên của mọi nỗi đau khổ bất hạnh trong cuộc đời là do tội lỗi loài người xây lưng phản nghịch lại với Ðức Chúa Trời. Người Việt cần trước hết được Chúa tha tội.
Người Việt biết mình cần được cứu rỗi và đã khổ công đi tìm sự cứu rỗi nhưng chưa biết con đường cứu rỗi duy nhất là chương trình do Đức Chúa Trời vạch sẵn đã được thực hiện bởi Con Ngài là Chúa Giê-xu. Người Việt cần đặt đức tin nơi sự toàn năng, toàn tri, toàn thiện, toàn mỹ của một Ðức Chúa Trời chân thật. Nhiều niềm tin của người Việt về Ông Trời rất gần với Thánh Kinh, nhưng chưa đầy đủ.
Một số người do không biết Thánh Kinh nên cứ tưởng Ông Trời là hình ảnh Ngọc Hoàng Thượng Ðế tưởng tượng của người Trung Hoa. Thậm chí có người tin chuyện Tề Thiên Ðại Thánh là thật, theo đó Ngọc Hoàng Thượng Ðế cũng chịu thua Tôn Ngộ Không...
Chính vì thế mà người Việt chúng ta cần có sự mạc khải đặc biệt, đúng đắn, trực tiếp từ Ðức Chúa Trời. Sự mạc khải đặc biệt nầy chỉ có thể tìm được trong Thánh Kinh và qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.

"Việt Nam, quê hương tôi."
Người Việt Nam là dân tộc có tình cảm thiên phú thật nồng thắm, thiêng liêng sâu sắc. Nét độc đáo của đất nước và con người Việt Nam chỉ có trái tim hồng Việt Nam mới cảm nhận ra. Tình yêu quê hương, tình bà con, tình láng giềng, sự tự hào dân tộc, sự trung thành, lòng chung thủy, tình nghĩa vợ chồng, ơn cha nghĩa mẹ công thầy. Kho tàng ca dao, tục ngữ, nguồn thi văn phong phú, giọng nói ba miền Nam Trung Bắc, ngôn ngữ đơn thanh mà đa nghĩa, câu nói lái tài tình, câu thơ lục bát, sáu câu vọng cổ, câu vè, tiếng hò, tiếng sáo, tiếng đàn bầu, bài ca Quan Họ, chuyện cổ tích, bài ca tân cổ giao duyên. Những âm thanh quen thuộc như tiếng chày giã gạo, tiếng gà gáy, tiếng chim cu mùa hạ, tiếng vịt kêu ngoài đồng, tiếng ếch nhái trong đêm, tiếng khóc trẻ thơ, tiếng ầu ơ ru con. Những hình ảnh thân thương như mồ mã ông bà, mái trường làng, chiếc cầu treo, sân đình cũ, bến đò xưa, sân đạp lúa, con trâu, con bò, con lợn, cây đa, cây dương liễu, cây tre, cây mía, cây dừa, cây cau, trái khế, trái mít, trái ổi, trái vú sữa, trái sầu riêng, trái nhãn lồng. Những khung cảnh quen thuộc như vườn bắp, đồng lúa, khu chợ làng, mái nhà tranh, ngôi nhà ngói, con đường cái quan, hồ cá, con sông, con suối, dãy Trường Sơn, bờ biển dài cát trắng, chiếc ghe buồm lướt sóng. Những món ăn thuần túy như tô cơm trắng, ly nước trà, chén nước mắm, tô phở Bắc, tô mì Quảng, tô bún bò Huế, tô canh chua, chiếc bánh tráng, táng đường, cây kẹo gừng, con cá nục, cá ngừ, cá lóc, cá rô. Chiếc áo dài, chiếc áo bà ba, cái nón lá, mái tóc dài người phụ nữ. Ðám hỏi, đám cưới, đám tang. Ngày Tết.
Thiết tưởng nhắc đến bấy nhiêu hình ảnh cũng đủ để nói lên nét đặc thù thắm thiết Việt Nam. Ðó là những sợi chỉ điều thiêng liêng đã từng liên kết bao nhiêu thế hệ người Việt Nam, những người đã và đang sống trên mảnh đất quê hương còn nghèo nàn, từng kinh qua gian khổ của chiến tranh, loạn lạc, ghi đậâm dấu tích của bao đời kiên cường chịu đựng, nhưng vẫn cứ phấn đấu để vươn lên trong lạc quan tin tưởng và hy vọng.
Hai chữ quê hương càng ngọt ngào thấm thía hơn biết bao trong tâm tưởng của mọi người Việt tha hương vì lý do nầy hay lý do khác.
Một nhạc sĩ Việt Nam, nỗi tiếng với những bài dân ca và tình ca đằm thắm tình tự dân tộc, đã tóm gọn tình cảm, tài năng của mình trong câu nói: "Ông Trời đã sinh ra tôi như thế! Rồi khi trả lời câu hỏi "Mai sau dù có bao giờ?" ông đáp: "Tôi muốn được mọi người nhớ đến như một người Việt Nam!" Thiết tưởng đây cũng là câu nói phản ánh cái triết lý tâm linh tình cảm của mọi người mang dòng máu Việt Nam. Người Việt và Ông Trời có mối quan hệ thiết thân.

Chương 2
Chúa Giê-xu là hiện thân "Ông Trời" giáng thế

Có rất nhiều lý do để chúng ta tin Chúa Giê-xu chính là "Ông Trời" giáng thế để cứu vớt nhân loại nói chung và người Việt chúng ta nói riêng.

Các Bằng Chứng Không Thể Chối Cải

1. Chính Chúa Giê-xu tuyên bố Ngài là Con Ðức Chúa Trời.
Chúa Giê-xu phán: "Ta là đường đi, chân lý và sự sống. Chẳng bởi Ta thì không ai đến được cùng Cha" (Giăng 14:6). Ngài khẳng định: "Sự sống đời đời là nhìn biết Cha, tức là Ðức Chúa Trời có một và thật, cùng Giê-xu Christ là Ðấng Cha đã sai đến" (Giăng 17:3). Ngài còn phán: "Ai đã thấy Ta, tức là đã thấy Cha." Rồi Ngài phán tỏ tường: "Ta với Cha là một" (Giăng 10:30).
Một người tự xưng mình là Ông Trời giáng thế thì ta chỉ có thể đưa đến kết luận (1) đó là người điên, (2) đó là người lừa dối, hoặc (3) đó là người nói thật. Cuộc đời và ảnh hưởng của Chúa Giê-xu chứng tỏ Ngài không phải là người điên, Ngài không hề lừa dôí, Ngài luôn luôn nói thật.
Người ta chỉ có thể khước từ hoàn toàn hoặc chấp nhận hoàn toàn lời tuyên xưng của Ngài. Một Thượng Ðế thành người thì người đó phải sống, phải nói, phải làm được những việc mà xưa nay chỉ Thượng Ðế mới làm được mà thôi. Ðem áp dụng những tiêu chuẩn nầy vào Chúa Giê-xu, chúng ta có thể đi đến kết luận Ngài chính là Con Trời giáng thế như Ngài đã tuyên xưng. Chính vì lời tuyên bố độc đáo như vậy mà giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái thời bấy giờ đã cho Ngài là phạm thượng và quyết định xử tử Ngài. Dù đối diện với cái chết, Chúa Giê-xu vẫn không thay đổi lập trường và những lời tuyên xưng của Ngài. Chúa Giê-xu đã sống và chết với những lời tuyên bố thẳng thắn của Ngài.

2. Chúa Giê-xu làm những việc phi thường mà chỉ có Ông Trời mới có khả năng làm.
Ðể chứng minh cho lời tuyên xưng Ngài là Con Ðức Chúa Trời, Chúa Giê-xu đã làm nhiều việc lạ lùng mà chỉ có Ông Trời mới làm được mà thôi.
Ngài có quyền trên sự sống loài người. Ngài chữa lành mọi bệnh tật, khiến người mù được thấy, người điếc được nghe, người phung được sạch, người què kẻ bại được đi, thậm chí Ngài khiến kẻ chết sống lại.
Ngài có quyền đuổi quỉ. Ma quỉ biết Chúa Giê-xu và run sợ trước uy danh của Ngài. Khi Ngài phán, ma quỉ liền vâng lịnh ra khỏi nhiều người bị quỉ ám. Ngài chiến thắng mọi cám dỗ của Ma quỉ.
Ngài có quyền trên thiên nhiên. Ngài hóa nước thành rượu, Ngài đi bộ trên mặt biển, Ngài phán một lời thì cơn bão biển yên lặng như tờ. Ngài hóa 5 cái bánh và 2 con cá cho hơn 5000 người ăn no dư dật. Ngài chỉ dẫn cho các môn đồ đánh được những mẻ lưới đầy cá.
Ngài có lòng thương xót, quảng đại. Ngài tha thứ cho người tội lỗi và khuyên họ đừng tái phạm. Ngài sẵn sàng lắng nghe, tiếp xúc với mọi hạng người. Ngài yêu thương bồng ẵm và chúc phước cho các em thiếu niên, nhi đồng. Ngài động lòng thương xót khi thấy đoàn dân đông như chiên không có người chăn. Ngài không từ chối một ai tìm đến với Ngài.
Ngài tuyên bố tha tội và chấp nhận sự thờ phượng của nhiều người. Ðây là những hành động của một Ðức Chúa Trời sống giữa thế gian.

Sứ đồ Giăng quả quyết khi viết sách Phúc Âm Giăng: "Ðức Chúa Giê-xu đã làm trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách nầy. Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Ðức Chúa Giê-xu là Ðấng Cứu Thế, tức là Con Ðức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin thì nhờ Danh Ngài mà được sự sống" (Giăng 20:30-31).

3. Chúa Giê-xu nói những lời mà chỉ Ông Trời mới có đủ thẩm quyền nói được.
Ngài phán dạy về mối quan hệ của con người: "Các ngươi có nghe lời phán rằng: Hãy yêu người lân cận và hãy ghét kẻ thù nghịch mình. Song ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi, hầu cho các ngươi được làm con của Cha các ngươi ở trên trời; bởi vì Ngài khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác" (Ma-thi-ơ 5:43-45).
Ngài dạy về thái độ nên có với Ðức Chúa Trời: "Ðức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy. Ðó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy" (Giăng 4:24).
Ðức Khổng Tử khuyên dạy: "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân", nghĩa là điều gì mình không muốn người ta làm cho mình thì đừng làm điều đó cho họ. Chúa Giê-xu thì dạy dỗ chúng ta cư xử và hành động cách tích cực hơn: "Ấy vậy, hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ" (Ma-thi-ơ 7:12).
Chúa Giê-xu quả quyết: "Trời đất sẽ qua, nhưng lời ta nói chẳng bao giờ qua đi" (Ma-thi-ơ 24:35). Chắc chắn không một phàm nhân nào dám nói câu nầy.

Chúa Giê-xu còn tuyên bố Ngài là ánh sáng của thế gian, là bánh sự sống, là nước hằng sống, là người chăn hiền lành vì chiên phó sự sống mình. Ngài dạy những kẻ theo Ngài phải trở nên trọn vẹn như Cha ở trên trời là trọn vẹn. Ngài truyền cho những kẻ theo Ngài phải sống có ích như muối của đất, như ánh sáng của thế gian, phải thực hành điều răn: Kính Chúa, Yêu Người.

Không một Giáo chủ nào có khả năng giải đáp rõ về Thiên đàng, Ðịa Ngục, về thiên sứ, về ma quỉ, về đời sau, về sự phán xét, về sự sống vĩnh cửu và mọi nan đề khác như Chúa Giê-xu đã dạy. Ngài dạy có thẩm quyền và rõ ràng không ai bác bẻ được. Không cần ai nói trước Ngài vẫn biết rõ tên tuổi, tâm trạng, số phận từng người. Chúa Giê-xu đang biết rõ bạn và tôi. Ngài là Ðấng toàn tri, toàn hảo, toàn năng.

4. Chúa Giê-xu không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.
Người theo Phật Giáo , Khổng Giáo, Lão Giáo tự hào rằng Giáo chủ của họ ra đời trước Chúa Giê-xu năm, sáu trăm năm. Người Do Thái hãnh diện về tổ phụ của họ là Áp-ra-ham, là người đã ra đời trước Chúa khoảng 2000 năm, nhưng Chúa Giê-xu tuyên bố rằng: "Trước khi có Áp-ra-ham đã có Ta" nghĩa là Ngài là Ðấng Tự Hữu và Hằng Hữu. Sứ đồ Giăng đã xác chứng: "Ban đầu có Ðạo (Chúa Giê-xu). Ðạo ở cùng Ðức Chúa Trời và Ðạo là Ðức Chúa Trời. Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài" (Giăng 1:1-3). Ít nhất có ba lần Thánh Kinh ghi chép lại tiếng phán từ trời phát ra giữa lúc nhiều người nghe thấy nói rằng: "Nầy là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đường, hãy nghe lời Con đó."

Trước khi trở về trời, Chúa Giê-xu truyền lịnh cho các môn đồ: "Hết cả quyền phép trên trời, dưới đất đã giao cho Ta. Vậy hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Ðức Cha, Ðức Con và Ðức Thánh Linh mà làm phép báp-tem cho họ và dạy họ giữ hết tất cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế" (Ma-thi-ơ 28:18-20).
Hiện nay Ngài đang ở với chúng ta trong thân vị của Ðức Thánh Linh. Thánh Kinh quả quyết: "Chúa Giê-xu Christ hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi" (Hê-bơ-rơ 13:8).

5. Nhiều nhân chứng đáng tin xác tín Chúa Giê-xu là Con Ðức Chúa Trời.
Có rất nhiều nhân chứng đáng tin trước Chúa, đương thời Chúa và sau Chúa xác tín Chúa Giê-xu là Con Ðức Chúa Trời giáng thế.

a. Các tiên tri làm chứng: Tiên tri là những phát ngôn viên của Ðức Chúa Trời. Tiên tri Ê-sai báo trước về việc Chúa Cứu Thế giáng sinh bởi Nữ Ðồng Trinh. Ngài được xưng là Ðấng lạ lùng, là Ðấng mưu luận, là Ðức Chúa Trời quyền năng, là Cha đời đời, là Chúa bình an. Ngài cũng được xưng là Ðấng Em-ma-nu-ên nghĩa là Ðức Chúa Trời ở cùng chúng ta.
b. Thiên sứ làm chứng: Thiên sứ là những sứ giả của Ðức Chúa Trời thi hành mạng lịnh của Ngài. Khi báo tin với nữ đồng trinh Ma-ri, thiên sứ nói: "Hỡi Ma-ri, đừng sợ, vì ngươi đã được ơn trước mặt Ðức Chúa Trời. Nầy ngươi sẽ chịu thai và sanh một con trai đặt tên là Giê-xu. Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Ðấng Rất Cao..." (Lu-ca 1:30-32).
c. Giăng Báp-tít làm chứng: Giăng Báp-tít là người được Ðức Chúa Trời sai đến để dọn dường cho Chúa Cứu Thế. Giăng đã giới thiệu về Chúa Giê-xu : "Kìa, Chiên Con của Ðức Chúa Trời là Ðấng cất tội lỗi thế gian đi." Giăng còn nói: "Ta đã thấy Thánh Linh từ trời giáng xuống như chim bồ câu đậu trên mình Ngài... Ta đã thấy Ngài nên ta làm chứng rằng: Ấy chính Ngài là Con Ðức Chúa Trời" (Giăng 1:29-34).
d. Giáo sư Ni-cô-đem làm chứng: Giáo sư Ni-cô-đem là nhà tri thức, giàu có và quyền thế trong cộng đồng người Do Thái đã đến gặp Chúa Giê-xu để xin đàm đạo với Ngài. Ông nói lên quan điểm của giới lãnh đạo Do Thái: "Thưa thầy, chúng tôi biết thầy là giáo sư từ Ðức Chúa Trời đến, vì những phép lạ thầy đã làm đó, nếu Ðức Chúa Trời chẳng ở cùng, thì không ai làm được" (Giăng 3:2).
e. Sứ đồ Phi-e-rơ làm chứng: Phi-e-rơ là một trong 12 Sứ đồ được Chúa Giê-xu tuyển chọn để tiếp tục chức vụ của Ngài trên đất. Sau ba năm sống gần gủi Chúa với kinh nghiệm tai nghe mắt thấy và với tâm tánh cương trực, Sứ đồ Phi-e-rơ quả quyết: "Chúa là Ðấng Cứu Thế, Con Ðức Chúa Trời hằng sống." Ông tuyên bố: "Chẳng có sự cứu rỗi trong một Ðấng nào khác (ngoài Chúa Giê-xu) vì ở dưới trời chẳng có Danh nào khác ban cho loài người để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu" (Công Vụ 4:12).
f. Sứ đồ Phao-lô làm chứng: Phao-lô vốn là người chống Chúa, bắt bớ môn đồ của Ngài cách hung hăng, phạm thượng. Nhưng Chúa Giê-xu đã hiện ra với ông, mở mắt ông; ngay lập tức ông tin Ngài và dâng cả đời mình truyền bá Phúc Âm. Phao-lô giảng và viết nhiều về Chúa, nhưng vài lời sau đây cũng đủ để ta hiểu Phao-lô biết Chúa là ai và Ngài đã làm gì cho nhân loại chúng ta: "Vì chỉ có một Ðức Chúa Trời, và chỉ có một Ðấng Trung Bảo ở giữa Ðức Chúa Trời và loài người, tức là Ðức Chúa Giê-xu Christ, là người; Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người" (I Ti-mô-thê 2:5-6).
g. Dân Sa-ma-ri làm chứng: Chúa Giê-xu không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, dân tộc. Ngài cứu vớt cả thế gian. Chúa giảng đạo cho cả người Sa-ma-ri là dân tộc bị người Do Thái thù địch, coi thường. Nhiều người Sa-ma-ri xác nhận: "Chính chúng ta đã nghe Ngài và biết rằng chính Ngài thật là Cứu Chúa của thế gian" (Giăng 4:42).

6. Sự chết đền tội của Chúa Giê-xu xác nhận Ngài là Chúa Cứu Thế.
Chúa Giê-xu giáng thế không phải để dạy triết lý về sự cứu rỗi hoặc chỉ cho người ta con đường tu luyện để tự cứu rỗi. Ngài giáng thế là để thực hiện sự cứu rỗi bằng cách chịu chết đền tội cho cả loài người. Ngài đã chọn con đường thập tự giá là con đường khiêm nhường thay cho kiêu ngạo, vâng phục ý Trời thay cho ý riêng, vị tha thay cho vị kỷ, thuận phục thay cho phản nghịch, cậy sức Chúa thay cho cậy sức riêng.
Con đường thập giá là dũng khí của tinh thần bất bạo động, của lòng tin sắt đá nơi chính nghĩa, của niềm tin tất thắng nơi sự công bình.Vì thương xót loài người, Chúa Giê-xu kiên quyết tiến đến thập tự giá với tinh thần quả cảm, hy sinh. Ngài biết chắc: "Khi ta được treo lên khỏi đất, ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta." Chúa Giê-xu phải chết công khai treo thân trên thập giá giữa khoảng trời và đất để giải hòa mối quan hệ vốn đứt đoạn giữa Trời và người. Chúa Giê-xu chịu chết đổ huyết để thỏa mãn đòi hỏi của Luật Pháp, theo đó "không đổ huyết thì không có sự tha tội." Chúa Giê-xu chịu hy sinh để mở cho nhân loại con đường sống, nhờ đó nhân loại có quyền trực tiếp đến với Ðức Chúa Trời. Trên thập tự giá, Ngài cầu nguyện cho những kẻ giết Ngài: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì." Rồi Ngài tuyên bố: "Mọi sự đã được trọn." Sứ mạng Ngài đã được hoàn tất. Ngài đã trả xong nợ tội cho tất cả chúng ta.
Người đội trưởng La Mã chứng kiến cái chết hùng tráng, lạ lùng của Ngài đã thốt lên: "Quả thật, người nầy là Con Ðức Chúa Trời."

7. Sự sống lại khải hoàn của Chúa Giê-xu chứng minh Ngài đúng là Con Ðức Chúa Trời như Ngài tuyên bố.
Con đường thập tự giá hy sinh đã mở ra sự sống lại vinh hiển cao trọng. Sự khiêm nhường được tôn cao, mão gai đau khổ đã nở hoa thành mão triều thiên, sự chết dẫn đến sự sống. Hạt giống đã nẩy mầm xanh. Sau ba ngày nằm trong phần mộ, Ðức Chúa Giê-xu đã sống lại. Ngôi mộ trống, vải liệm còn nguyên, những lần hiện ra của Chúa, đời sống thay đổi lạ lùng của những môn đồ, những lời làm chứng quả quyết của họ, sự nhóm họp ngày Chúa Nhật thay cho ngày Sa-bát, sự ra đời của Cơ-đốc Giáo... là những bằng chứng không thể chối cải về sự phục sinh. Sự sống lại của Chúa Giê-xu đã chứng minh cho chân lý: tình thương thắng hận thù, thiện thắng ác, sự sống thắng sự chết, chân lý thắng ngụy lý, sự sáng láng thắng sự tối tăm, sự công bình thắng sự bất công, Thượng Ðế thắng Quỉ Vương. Ðức Chúa Trời chấp nhận giá chuộc Con Ngài đã trả thay cho loài người. Chúa Cứu Thế Giê-xu đã làm ứng nghiệm mọi lời tuyên bố của Ngài.

8. Lịch sử nhân loại minh chứng Chúa Giê-xu là Ðấng Cứu Thế.
Trải qua hai ngàn năm, thế giới có dân Do Thái tản lạc, tồn tại và hồi hương lập quốc. Nhân dân khắp năm châu có Cơ-đốc Giáo, có Lễ Giáng Sinh và Lễ Phục Sinh, có ngày Chúa Nhật, có niên hiệu Dương lịch Trước Chúa (TC) và Sau Chúa (SC), hằng năm có hàng triệu người hành hương thánh địa, có di tích ngôi mộ trống, có một phần ba dân số thế giới xưng mình là Cơ-đốc nhân (Christian), có nhà thờ, bệnh viện, có các Trường Ðại Học, có các Ðại Chủng Viện, có Hội Hồng Thập Tự và các tổ chức bác ái từ thiện, có nền văn minh, văn hóa hiện đại, có khoa học kỹ thuật tiên tiến, đời sống phụ nữ và trẻ em được nâng cao, nhân quyền được tôn trọng v.v... Tất cả những thực tế đó đã mặc nhiên chứng minh rằng Chúa Giê-xu là Ðấng Cứu Nhân Ðộ Thế và thế giới không được như ngày nay nếu không có Ngài. Rồi còn bao nhiêu cuộc đời đã được đổi mới với kinh nghiệm ngọt ngào, vui tươi, sống động khi gặp gỡ Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Những bằng chứng thực tế hùng hồn nói trên có làm cho bạn suy nghĩ ít nhiều về Chúa Giê-xu hay không? Chúa Giê-xu là ai và Ngài đã làm gì cho đời sống của bạn và tôi?
Chỉ cần bình tĩnh sáng suốt suy nghĩ một chút cũng đủ để chúng ta tin Ngài, chạy đến với Ngài, cảm tạ Ngài và cảm kích tôn thờ Ngài.

Con Ðường Sống
Người Việt Nam chúng ta có truyền thống thờ Trời. Các tôn giáo và tín ngưỡng Á Ðông đã góp phần tốt đẹp cho truyền thống nầy. Ðây cũng là ơn phúc Ðức Chúa Trời dọn dường để cho chúng ta đón nhận Ðạo Trời do Chúa Cứu Thế đem đến. Rất nhiều người đã đón nhận Ðạo Trời và đang kinh nghiệm sự sống và bình an cho tâm hồn. Còn bạn thì sao? Có lẽ bạn đã có tôn giáo và không dễ để bạn thực hiện cuộc cách mạng tâm linh, khi bạn từ giã con đường cũ để theo con đường mới. Hơn nữa, con đường theo Chúa là con đường thập tự giá nghĩa là con đường hẹp. Có thể bạn sẽ trả giá khi bị người thân hiểu lầm hoặc bạn bè chê bai. Tuy nhiên, con đường theo Chúa là con đường dẫn đến sự bình an và sự sống vĩnh cửu. Giá bạn trả không thể so sánh với phước hạnh bạn nhận được.
Ðây là một vấn đề sống chết cần quyết định ngay, không thể chần chừ. Có ai biết lúc nào mình sẽ về chầu Trời? Mong bạn chọn ngay cho đời mình con đường đẹp lòng Trời. Mong bạn mau mau điều chỉnh tín ngưỡng cho hợp Ý Trời.

Bạn đang là môn đệ của Khổng Giáo chăng? Hãy nhớ lại lời thánh hiền: "Hoạch tội ư Thiên, vô sở đảo giả" nghĩa là đã phạm tội với Trời thì không thể cầu đảo ở đâu khác được. Khổng Giáo nhấn mạnh đến Nhân Ðạo, không rành Thiên Ðạo. Biếtù Nhân Ðạo rồi, mời bạn hãy tìm Thiên Ðạo. Tin thờ Ðức Chúa Trời như lời dạy của Chúa Giê-xu chắc chắn là hợp với tôn chỉ các bậc thánh hiền..
Bạn đang thờ cúng ông bà? Ðạo Trời giúp bạn làm tròn bổn phận đối với Trời và với người một cách quân bình cân đối. Bạn có biết hiếu kính cha mẹ vừa là một mạng lịnh vừa là một lời hứa của Ðức Chúa Trời không? "Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được phước và sống lâu trên đất" (Ê-phê-sô 6:2,3).
Bạn đang là đạo hữu Phật Giáo chăng? Phật Giáo là tôn giáo chính của nhiều nước Á Ðông. Nhưng triết lý Phật Giáo rất cao siêu, ít người đạt tới mục đích Giác Ngộ. Vì thế người Phật tử dù khổ công tu luyện vẫn không biết chắc khi nào được giải thoát. Tôi không có ý muốn tranh luận về triết lý tôn giáo, chỉ xin đưa ra đây vài nét khác nhau giữa triết lý Phật Giáo và Phúc Âm để bạn dễ so sánh và lựa chọn.
Phật Giáo chủ trương tự giác, cậy sức mình tu luyện là chính. Phúc Âm chủ trương tin cậy ân huệ và sức Chúa hoàn toàn. Phật Giáo dạy người giáo hữu phải tạo ra công đức để mong được giải thoát. Phúc Âm dạy người tín hữu lấy đức tin tiếp nhận lấy sự cứu rỗi như món quà quí báu Chúa đã sắm sẵn xong và tặng không cho chúng ta được hưởng.
Mục đích của Phật Giáo là đến cõi Niết-bàn tức là trạng thái không còn bản thân nữa, tịch diệt tham dục, không còn sinh tử luân hồi. Mục đích của người theo Chúa là được Chúa tha tội và được ơn cứu rỗi khởi đầu ngay trong cuộc sống hiện tại. Hy vọng của người theo Chúa là sau khi lìa đời được vui hưởng Thiên đàng, sống đời đời ở một nơi có thật, là nhà Cha, là thành thánh vinh hiển phước hạnh, là quê hương trên trời. Người theo Chúa rất yên tâm và thỏa lòng về sự cứu rỗi Chúa ban. Bạn có đang thỏa lòng với con đường tu hành của bạn không? Bạn có đang chắc chắn mình sẽ được giải thoát không?

Có tôn giáo chưa đủ, bạn cần phải chắc chắn được cứu rỗi linh hồn.
Phần lớn người Việt Nam đều đã có tôn giáo. Nhưng có tôn giáo chưa đủ. Có nhiều triết lý chỉ có giá trị trong đời nầy mà không có giá trị trong đời sau.
Ðiều ưu tiên hàng đầu của chúng ta không phải là theo một triết lý tôn giáo để trấn an lương tâm, nhưng là có được một Ðấng bảo đảm cứu ta thoát vòng tội lỗi và sự chết đời đời. Chúng ta cần thoát khỏi hỏa ngục và vui hưởng thiên đàng. Hỏa ngục có thật cũng như thiên đàng có thật. Hỏa ngục là nơi cả xác lẫn hồn đều đau đớn, khốn khổ. Trong hỏa ngục, phản ứng của con người là khóc lóc, than vãn, nghiến răng. Hỏa ngục là nơi không có ánh sáng, là vực sâu không đáy. Ở hỏa ngục không có hy vọng ra khỏi, không có nghỉ ngơi, không có thời hạn chấm dứt. Chỉ những người tin cậy và vâng lời Chúa Cứu Thế Giê-xu mới vượt khỏi sự chết mà đến sự sống, thoát khỏi địa ngục mà đến thiên đàng.
Các giáo chủ tôn giáo đã có những cố gắng rất tốt khuyên dạy chúng ta làm lành lánh dữ, nhưng mọi nổ lực của loài người vẫn không đạt được tiêu chuẩn công bình trọn vẹn của Ðức Chúa Trời. Ðức Chúa Trời chỉ chấp nhận giá trả của Chúa Giê-xu đền tội cho nhân loại mà thôi. Khi về chầu Trời thì không giáo chủ nào binh vực khẩn đảo cho chúng ta được. Chính bản thân của họ là người cũng phải chầu Trời để chịu phán xét. Lúc đó chỉ có Chúa Giê-xu là Con Trời hiện đang ngồi bên hữu Ðức Chúa Trời cầu thay cho chúng ta mà thôi.
Vậy thì điều chỉnh đức tin trở lại tôn thờ Ðức Chúa Trời đúng như Chúa Cứu Thế Giê-xu vạch đường chỉ lối chẳng những là việc làm hợp tình hợp lý mà còn là con đường sống duy nhất hôm nay.

Cầu nguyện tiếp nhận Chúa
Ðức Chúa Trời đang chờ đợi bạn quay về cùng Chúa. Ðây là bước quan trọng nhất bạn cần làm hôm nay. Nếu bạn thật lòng muốn quay về cùng Chúa, mời bạn hãy lấy đức tin kêu cầu Chúa mấy lời chân thành sau đây:

"Kính lạy Ðức Chúa Trời Hằng Sống:
Con biết Ngài là Chân Thần, là Ðấng dựng nên trời đất, là Ðấng dựng nên đời con. Lâu nay con xa cách Chúa, phạm tội với Ngài. Nhưng Ngài không hình phạt con mà còn ban ơn cho con. Ngài đã sai Con Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-xu giáng trần chịu chết đền tội cho con và đã từ cõi chết sống lại. Con hoàn toàn tin cậy Chúa là Ðấng duy nhất đưa con đến thiên đàng. Nay con xin ăn năn tội quay về cùng Chúa, nhận Ngài làm Cứu Chúa và Chúa của đời con. Xin Chúa ngự vào tâm hồn và đời sống con, tha tội cho con, nhận con làm con cái của Chúa, và biến đổi đời con để từ nay con có thể sống một đời sống đẹp lòng Ngài. Con thành kính cảm ơn Chúa và cầu nguyện trong Danh Chúa Cứu Thế Giê-xu. Muốn thật hết lòng."

Thánh Kinh chép: "Nhưng hễ ai đã tin nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Ðức Chúa Trời" (Giăng 1:12).
Như vậy, nếu hôm nay bạn thật lòng tin nhận Chúa, bạn đã trở thành con cái Chúa rồi. Hãy tin Lời Chúa, đừng tin cảm giác của bạn. Con đường sống đang mở ra thênh thang trước mắt bạn. Mời bạn đến gia nhập một Hội Thánh Tin Lành địa phương gần nơi bạn ở để cùng thờ phượng Chúa, học hỏi Lời Chúa và hầu việc Chúa. Bạn cần Hội Thánh để giúp bạn lớn lên và đồng hành với bạn trên con đường theo Chúa. Chúc mừng bạn gia nhập vào gia đình của Ðức Chúa Trời.

Mục sư Nguyễn Văn Huệ







Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email: luaphucamhp@yahoo.com


Trang Hoithanhkienbai Blog: Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..


Đường Đến Với Chúa, Công Giáo Hay Tin Lành?

Đăng bởi Bùi Qúy Đôn | Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014








Đường đến với Chúa? Công Giáo Hay Tin Lành?


Câu hỏi:


Đường đến với Chúa chỉ có một con đường hay là nhiều hơn một con đường?
Nếu chỉ có một con đường thì con đường nào là đúng giữa hai con đường là đạo Thiên Chúa và đạo Tin lành?
Đạo Thiên Chúa họ cũng thờ Chúa Trời, họ cũng làm theo Kinh Thánh, đời sống cơ đốc của họ cũng trong sáng và mẫu mực. Như vậy có thể nói là họ sai được sao?
Giá sử họ sai thì họ đã sai ở những điểm nào? Vậy tại sao Đức Chúa Trời không tỏ cho họ biết? Như vậy họ có được cứu không?


Trả Lời:


Chúng tôi rất cảm ơn bạn đã chia sẻ với chúng tôi ưu tư của bạn. Câu hỏi của bạn cũng là câu hỏi của nhiều người khác và cũng đã từng là câu hỏi của bản thân chúng tôi trước đây.

Như bạn cảm nhận, chúng ta chỉ biết cảm ơn Chúa vì Chúa cho chúng ta biết Ngài. Tuy nhiên, đôi lúc nào đó trong cuộc đời, chúng ta cũng không khỏi băn khoăn trước câu hỏi: Liệu con đường tôi đi có phải là chân lý? Liệu tôi có quá chủ quan trong niềm tin của tôi? Thế còn biết bao nhiêu người khác xung quanh tôi không tin Chúa thì sao? Chẳng lẽ họ đều sai lầm cả? Tôi vẫn thấy họ sống rất đạo đức mà!

Trước khi trả lời thắc mắc của bạn, chúng tôi xin nói thêm một điểm là chúng ta chỉ có thể giải đáp thắc mắc này nếu chúng ta đặt lòng tin hoàn toàn vào Kinh Thánh, nghĩa là chúng ta tin rằng điều Kinh Thánh nói là chân lý. Như bạn đã thấy, vấn đề ở đây là vấn đề của niềm tin. Không ai giải thích được trọn vẹn vì sao tôi tin điều này mà lại không tin điều kia. Bản chất của "niềm tin" bao hàm một sự giao thác, dù rằng cũng ít nhiều trên nền tảng lý trí hiểu biết, nhưng nó vượt xa hơn những gì mà lý trí con người cảm nhận được. Vậy chúng ta sẽ tiếp cận câu hỏi của bạn trên nền tảng là niềm tin nơi Kinh Thánh, là chân lý và chuẩn mực cho sự lý giải của chúng ta.

Chúng tôi xin trả lời câu hỏi của bạn theo từng ý. Trước nhất, chỉ có một con đường cứu rỗi duy nhất là con đường cứu rỗi qua đức tin nơi công lao cứu chuộc của Chúa Giêxu. Kinh Thánh Công vụ 4:12 chép "Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác vì ở dưới trời chẳng có danh nào khác ban cho loài người để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu." Chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là sự cứu rỗi duy nhất là thông qua CHÚA GIÊXU, chớ không phải thông qua nhà thờ Tin Lành hay bất kỳ nhà thờ nào. Điều này có nghĩa là, không phải bất kỳ ai gia nhập vô một nhà thờ của đạo Tin Lành đều được cứu cả. Chỉ những người thật lòng nhìn nhận mình có tội, bất lực vì biết rằng mình không thể tự cứu mình được, và hoàn toàn nhờ Chúa chết thay cho mình thì mình mới được tha tội và được cứu linh hồn thì mới được cứu. Có rất nhiều người là thành viên của những nhà thờ mà chưa thật sự tin và vì vậy họ không được cứu.



Khi nói đến "đạo Tin Lành" cũng là một khái niệm rất rộng, có thể vì bạn chưa có dịp tiếp xúc được nhiều những giáo phái mà tiếng Việt gọi là đạo Tin Lành (tiếng Anh gọi là Christianity), dù trong phạm vi mang tên "Tin Lành" đó, cũng có những suy nghĩ quan điểm rất khác nhau. Thế thì vấn đề không phải là đạo Tin Lành hay đạo Thiên Chúa mà là tin nơi CHÚA GIÊXU. Nếu bạn đã tin nơi Ngài, bạn hãy yên tâm rằng mình được cứu và Chúa biết bạn là người thuộc về Ngài dù hiện tại bạn đang ở trong một giáo hội nào.

Điều đó đưa đến vấn đề là: Thế thì tôi có thể gia nhập bất kỳ đạo nào sao? Đây lại là một vấn đề khác. Một con cái thật của Chúa, hết lòng yêu mến Chúa sẽ ao ước muốn làm đúng theo Lời Chúa dạy và vì thế sẽ tìm kiếm được thờ phượng Chúa ở nơi nào làm đúng theo Lời Chúa. Và Lời Chúa, tất nhiên, là Kinh Thánh. Nếu bạn tin Chúa và yêu Chúa, bạn sẽ muốn thờ phượng tại một nơi giảng dạy và thờ phượng theo Kinh Thánh. Thật ra cả giáo hội Thiên Chúa Giáo và những giáo hội Tin Lành đều nhận rằng mình giảng dạy theo Kinh Thánh. Nhưng chúng tôi rất tiếc mà nói rằng, điều đó không phải luôn luôn chính xác. Tại sao? Vì con người tự nhiên chúng ta với trí khôn hữu hạn và lý trí bị hoen ố bởi tội lỗi nên không có khả năng HIỂU BIẾT ĐÚNG Kinh Thánh như chính thật ý của Đức Chúa Trời , nghĩa là bởi lý trí bình thường tự nhiên của chúng ta, chúng ta không thể hiểu được Kinh Thánh.


Chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là sự cứu rỗi duy nhất là thông qua CHÚA GIÊXU, chớ không phải thông qua nhà thờ Tin Lành hay bất kỳ nhà thờ nào. Điều này có nghĩa là, không phải bất kỳ ai gia nhập vô một nhà thờ của đạo Tin Lành đều được cứu cả. Chỉ những người thật lòng nhìn nhận mình có tội, bất lực vì biết rằng mình không thể tự cứu mình được, và hoàn toàn nhờ Chúa chết thay cho mình thì mình mới được tha tội và được cứu linh hồn thì mới được cứu. Có rất nhiều người là thành viên của những nhà thờ mà chưa thật sự tin và vì vậy họ không được cứu.

Chân Lý Kinh Thánh













Giăng 14:26 chép "Nhưng Đấng Yên Ủi, tức là Đức Thánh Linh... sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều ta phán cùng các ngươi." 1Côrinhtô 2:10 "Đức Chúa Trời đã dùng Đức Thánh Linh để bày tỏ những sự đó cho chúng ta..." (Nếu bạn có thời gian, xin bạn đọc cả 1Côrinhtô 2:6-16 sẽ thấy rõ thể nào chỉ có Đức Thánh Linh mới cho chúng ta được hiểu Kinh Thánh). Vậy thì chỉ những ai CÓ THÁNH LINH trong lòng mới có khả năng hiểu Kinh Thánh theo đúng ý tưởng của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, mức độ hiểu biết Kinh Thánh của chúng ta nhiều hay ít, chính xác đến mức độ nào... cũng sẽ lớn dần theo đời sống theo Chúa của chúng ta, mức độ học hỏi Kinh Thánh của chúng ta và sự bày tỏ của Chúa nữa. Nói tóm lại, vì Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời chớ không phải là sách vỡ văn chương của con người chúng ta nên người ta không thể hiểu biết Kinh Thánh như những sách vỡ khác mà cần có Thánh Linh hướng dẫn. Điều đó đưa đến những trường hợp sau: Những người không thật sự tin Chúa, không có Thánh Linh trong lòng, sẽ không hiểu Kinh Thánh gì cả dù có thể hiểu nó trên bình diện chữ nghĩa văn chương, hoặc hiểu Kinh Thánh một cách lệch lạc. Những người có Thánh Linh trong lòng có khả năng học và hiểu Kinh Thánh nhưng mỗi người vẫn ở một mức độ khác nhau. Có nhiều giáo hội mang tên Tin Lành và cả giáo hội Thiên Chúa Giáo đều nói mình thờ phượng Đức Chúa Trời và giảng dạy Kinh Thánh, nhưng mức độ người ta giảng dạy đúng Kinh Thánh đến bao nhiêu là một điều hoàn toàn khác.

Riêng về niềm tin Thiên Chúa Giáo, vì bạn hỏi đặc biệt về giáo hội này nên chúng tôi xin mở rộng một chút tại đây. Vấn đề lớn nhất trong niềm tin Thiên Chúa Giáo là vấn đề sự cứu rỗi có được bởi đức tin và sự góp phần của công đức con người nữa. Dù rằng Thiên Chúa Giáo cũng tin Chúa Giêxu chết thay cho tội lỗi con người, nhưng để được cứu, ngoài đức tin nơi Chúa con người phải làm điều thiện mới được sự cứu rỗi. Kinh Thánh Êphêsô 2:8,9 nói "Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời, ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình." Kinh Thánh cũng dạy chúng ta làm điều tốt, Galati 6:9 nói "Chớ mệt nhọc về sự làm lành..." Tuy nhiên, vấn đề là thứ tự của nó: nghĩa là chúng ta phải TIN ĐỂ ĐƯỢC CỨU, rồi bởi là Con Chúa, chúng ta LÀM LÀNH BỞI MUỐN LÀM THEO LỜI CHÚA. Chúng ta không cố gắng làm lành để có công mà được cứu vì công trạng của chúng ta không thể cứu chúng ta.
  
Một vấn đề lớn nữa của niềm tin Thiên Chúa Giáo và việc cầu xin qua trung gian bà Mari và các thánh. Kinh Thánh dạy trong 2Timôthê 2:5 "Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Giêxu Christ, là người." Theo đó, chúng ta chỉ có thể cầu nguyện thông qua (hay "trong danh") Chúa Giêxu mà thôi.

Bạn hỏi vậy thì người Thiên Chúa Giáo có được cứu không? Và nếu họ sai thì tại sao Chúa không cho họ biết? Chúng tôi xin trở lại với điều chúng tôi nói ban đầu. Nếu ai tin mình có tội và chỉ nhờ Chúa Giêxu chết thay tội lỗi mình mới được cứu thì được sự cứu rỗi chớ không phải vì ở trong giáo hội nào. Vậy nếu giả dụ có ai đó trong giáo hội Thiên Chúa Giáo mà có lòng tin đúng như vậy và sống đúng theo Lời Kinh Thánh thì người đó được cứu. Tuy nhiên, một điều tự nhiên là nếu người đó thật sự hiểu biết Kinh Thánh thì một lúc nào đó sẽ nhận ra những vấn đề chưa thích hiệp trong niềm tin Thiên Chúa Giáo so với Kinh Thánh... Còn tại sao Chúa không cho họ biết họ sai? Điều đó là việc của Chúa, và là ý muốn của Ngài. Đức Chúa Trời tể trị trên muôn vật, việc mở mắt để cho người ta thấy được lẽ thật là quyền của Ngài như trong Rôma 9:15 chép: "Vì Ngài phán cùng Môi-se rằng: Ta sẽ làm ơn cho kẻ ta làm ơn, ta sẽ thương xót kẻ ta thương xót.", chúng ta không cần phải thắc mắc về điều này. Bạn có thể đọc cả đoạn 9 của sách Rôma sẽ thấy rõ hơn. Sự cứu rỗi là vấn đề riêng tư của mỗi cá nhân với Đức Chúa Trời: không ai biết ai được cứu không ngoài Đức Chúa Trời và bản thân người đó.

Thế thì làm sao tôi biết tôi đang ở trong một giáo hội đúng hay sai? Trước hết, chúng tôi muốn bạn an tâm về sự cứu rỗi của mình ở trong Chúa Giêxu chớ không ở trong giáo hội, hầu cho bạn đừng quá bất an về vấn đề giáo hội nữa. Thứ hai, chúng ta cảm ơn Chúa vì mình đã có Kinh Thánh trong tay và có Thánh Linh trong lòng. Bạn hãy cầu xin Chúa hướng dẫn bạn hiểu được Kinh Thánh để tìm ra chân lý cho đời sống mình. Chúng tôi đã từng cầu nguyện lời cầu nguyện đó mỗi lần chúng tôi phải đứng trước một sự hoang mang, chọn lựa... Và chúng tôi đã thấy Đức Chúa Trời từng bước dẫn dắt chúng tôi tìm đến chính mình Ngài, dù rằng đó là một quá trình dài.

Chúng ta hãy tin nơi Đức Chúa Trời, Đấng biết kẻ thuộc về Ngài và Ngài yêu mến những tấm lòng chân thành tìm kiếm Ngài, Ngài sẽ mở mắt cho bạn nhìn thấy con đường thật trong Ngài.




Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email: luaphucamhp@yahoo.com


Trang Hoithanhkienbai Blog: Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..


Phim: Trái Tim Thiên Thần

Đăng bởi Bùi Qúy Đôn | Thứ Tư, 16 tháng 7, 2014












Nguồn PCĐ


Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email: luaphucamhp@yahoo.com


Trang Hoithanhkienbai Blog: Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..


Người TL Đối Với Việc Thờ Cúng Ở Việt Nam

Đăng bởi Bùi Qúy Đôn | Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2014








Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là truyền thống lâu đời được lưu truyền qua nhiều thế hệ tại Việt nam, nay cần phải được xét lại theo cái nhìn của kinh thánh.Việt nam là một đất nước nhỏ bé thuộc phía đông bán đảo Đông dương, khu vực Đông Nam Á, nhiều truyền thống văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau được tiếp tục lưu truyền cho đến ngày nay. Thờ cúng tổ tiên cũng là một trong những nét độc đáo của người Việt xưa nay, hình thức này đã ăn sâu bén rễ vào trong xương, máu đến nỗi nó đã trở thành một phần của đời sống của người Việt. Nhiều người cho rằng, người ta có thể quên đi một tôn giáo nhưng không thể bỏ đi việc thờ cúng tổ tiên, ông bà. Người viết bài này nhận thấy đã từ lâu, tai tiếng Cơ đốc giáo là đạo bỏ ông bỏ bà đã ảnh hưởng xấu đến việc phát triển niềm tin Cơ đốc tại Việt nam. Vấn đề này cần phải được xét lại và hành động vừa đúng nhãn quan Thánh kinh, vừa giữ được những nét đẹp của văn hoá truyền thống, đem lại ích lợi cho việc vâng theo đại mạng lệnh của Đức Chúa Trời.



I. NGUỒN GỐC THỜ CÚNG TỔ TIÊN

1. Mối quan hệ với người còn sống:

Thờ cúng tổ tiên không không phải là tôn giáo. Nó xuất phát từ lòng thành kính và biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Thành ngữ: Cây có cội, nước có nguồn; chim có tổ và người có tông. Ý nói: Làm người phải biết nhớ tưởng đến nguồn gốc của mình, tức là nhớ đến cha mẹ và ông bà tổ tiên. Lòng thành thương tưởng ông bà, Nước nguồn cây cội mới là tu mi hoặc "Công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ, kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con". Khi còn sống, con người trong cộng đồng có mối quan hệ với nhau. Quan hệ gia đình có thứ tự, có giai cấp, anh em, cha mẹ, ông bà, và tổ tông..., "anh em như thể tay chân", "gà cùng một mẹ". Quan hệ cộng đồng, có bà con xóm giềng, "tối lữa tắt đèn có nhau". Trong lúc bệnh hoạn, gặp khó khăn vì khó nghèo giúp nhau trong mọi hoàn cảnh cuộc sống. Vài địa phương từ Bình định ra xứ bắc xem tổ tiên của gia đình dòng tộc có tổ tiên chung của cả làng, tổ tiên của làng chính là tổ tiên của dòng họ, được gọi là tiền hiền, hậu hiền[1]. Quan hệ với xã hội, người Việt nam biết tôn kính những anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước...nên những mối quan hệ này trở thành mật thiết, có giai cấp và có giá trị trong đời sống hiện tại. Đất nước ta vào giữa cuối thế kỷ 16, khi Tạ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh Chúa Nguyễn mở cõi vào phương Nam miền Tây sông nước. Mỗi gia đình miền Trung có thể theo ngài vào Nam, ai có sức phát hoang khai khẩn, được bao nhiêu thì làm chủ bấy nhiêu. Nhiều gia đình chia tay, người cha hoặc người mẹ cùng con cả theo Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam mở đất, không họ hàng, không thân nhân, họ phải kết thân với nhau theo tuổi tác, giúp nhau trong canh tác, làm sui gia, dần dà tạo nên làng xóm. Trong bối cảnh xa quê hương mở đất phương xa, gặp nạn "dưới sông sấu lội, trên bờ cọp đua" hoặc bệnh tật có người qua đời, người còn lại trở nên cô đơn tưởng nhớ người đã khuất.

2. Mối quan hệ với người đã khuất:

Thờ cúng tổ tiên là hình thức tín ngưỡng mà thông qua nghi lễ thờ cúng nhằm xác lập “mối liên hệ” giữa người sống với người chết, giữa người thế giới hiện tại và thế giới tâm linh. Là sự thể hiện quan niệm về nhân sinh của người Việt Nam: “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”. Nếu như tôn giáo thường tuyệt đối hóa đời sống tinh thần, hướng con người về thế giới siêu thoát, thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tuy có hướng con người về với quá khứ, song lại rất coi trọng hiện tại và tương lai[2]. Tín ngưỡng tổ tiên còn là sợi dây liên kết giữa những con người trong cuộc sống hiện tại. Tình nhân ái trong cộng đồng được xây dựng, củng cố cả ở quá khứ, hiện tại và tương lai, giữa người quá cố và người đang sống. Người Việt nghĩ rằng người chết vẫn còn quanh quẩn đâu đó trên trần thế này mặc dù mắt thường không nhìn thấy. Người quá cố có thể nhận biết được tư tưởng của người đang sống cần gì. Ngược lại, thì người còn sống cũng muốn làm cho người đã khuất có được nhu cầu như còn sống. Dân gian có câu "Dương gian - Âm phủ đồng nhất lý" nói lên sự nhận thức của người đang sống cho rằng cõi âm cũng giống như cõi dương trần, dù ta không thấy được bằng mắt nhưng người đã khuất cũng có những nhu cầu giống như người còn sống, lại có quyền lực vô song. Một số địa phương còn coi tổ tiên của gia đình chính là các thần linh thiêng luôn ở cạnh có thể ban phước, phù hộ, độ trì cho người thân, con cháu[3], nói theo cách khác, tín ngưỡng của tục thờ cúng tổ tiên là quan niệm về sự tồn tại của linh hồn và mối liên hệ giữa người đã chết và người sống (cùng chung huyết thống) bằng con đường hồn về chứng kiến, theo dõi hành vi của con cháu, quở trách hoặc phù hộ cuộc sống của họ[4].


Bàn thờ tại nhà ở Nam bộ

3. Hình thức thờ cúng:

Vì do sự nhận thức trên, người Việt nam đã có truyền thống quan tâm đến chuyện lo liệu cho người thân qua đời và sau khi qua đời. Người ta lập bàn thờ để cúng, vái. Ngày cúng kỵ là ngày người quá cố qua đời. Gia đình con cháu từ các nơi tụ về và dự phần tài chánh hoặc vật cúng trong ngày giỗ. Người trong gia đình đi qua bàn thờ phải cúi đầu bước nhẹ kính cẩn giống như ông bà, cha mẹ đang hiện diện nơi đó. Hành lễ cúng gồm các phần: nghi vật, nghi trượng và nghi thức. Nghi vật là những thứ vật dành cúng để người quá cố về "hưởng". Nghi trượng là những thứ bày trí trên bàn thờ, như lư hương, chân đèn, bài vị...Nghi thức là cách bày tỏ của con cháu còn sống, tuỳ thuộc vào mỗi địa phương. Thông thường là sự bày biện hương, đăng, trà, quả, các món ăn, món uống...rồi người đứng đầu gia đình thắp hương van vái với người quá cố ban phước cho con cháu trong gia đình may mắn, bình an...sau đó là từng người theo thứ tự từ trên xuống dưới. Nói chung, tất cả lòng thành đều được thể hiện ngay thì giờ cúng kiếng thiêng liêng đó.

Nhiều người giàu có còn xây dựng nhà từ đường thờ tự cả tổ tiên nhiều đời mà con cháu cũng chẳng biết dùng từ ngữ để gọi, chỉ gọi chung là nhà từ đường, trong đó dành thờ phượng tổ tiên qua đời là xong. Đối với những gia đình khá giả như vậy.

Hình ảnh bàn thờ tại Kiền Bái


Hàng năm con cháu đổ xô về không chổ chứa. Trong quyển Phong Tục Việt Nam, học giả Phan Kế Bính viết: Mỗi tuần tiết, hoặc ngày kỵ, hoặc mùa có của mới, gạo mới, hoặc khi có việc hiếu hỷ, việc to, việc nhỏ, nhà kiệm nhà phong, hoặc dùng bò lợn dê gà hoặc làm một vài mâm cỗ, hoặc dùng đồ hoa quả bánh trái, hoặc thủ lợn mâm xôi...tuỳ thế nào cho tiện thì thôi. Nhưng thế nào cũng phải có cơi trầu, bát nước trong, một hồ rượu mới là thành lễ. Đốt đèn, đốt hương tuỳ việc mà khấn vái gia tiên. Đồ cúng cấp chưa cúng thì dẫu lưng cơm thừa, bát canh dở cũng không ai dám ăn trước, ấy cũng là một lòng rất thành kính vậy[5]. Hằng năm khi đến ngày người chết qua đời, con cháu dù bận rộn cũng phải nhớ đến làm giỗ, chứ không phải cúng giỗ. Vì chỉ những người theo tôn giáo có chấp nhận sự thờ cúng tổ tiên mới cúng, những người theo tôn giáo không chấp nhận sự thờ cúng thì chỉ làm kỷ niệm ngày người thân đã chết, chỉ làm giỗ mà không cúng[6].III.

II. HỘI NHẬP VĂN HOÁ ĐỊA PHƯƠNG


1. Tiếp cận tập tục văn hoá địa phương:

Việc thờ cúng tổ tiên, ông bà có thể nói đây là phong tục mang ý nghĩa "tỏ lòng biết ơn" của người Á đông nói chung và riêng của người Việt nam. Họ quan tâm trong cuộc sống hiện tại lẫn bày tỏ lòng tưởng nhớ ngay sau khi người thân qua đời. Bất cứ hình thức nào ngoài tín ngưỡng thờ cúng này dường như khó có thể thay thế hoàn toàn. Cadiere - nhà văn hoá, Linh mục người Pháp đã dày công nghiên cứu Tín ngưỡng và Tôn giáo của người Việt, ông phát hiện ra một vấn nạn về phạm trù đạo mà người Việt sử dụng, như đạo làm người, đạo làm con, đạo làm cha mẹ, đạo làm vợ chồng, đạo hiếu, đạo vua tôi, đạo trung thần...cái gì cũng dùng chữ đạo để nhấn mạnh, nó biến hoá vô cùng và rất phức tạp, chằng chịt các mối tương quan, khó lòng phân loại rạch ròi các phạm trù, hình thái kết hợp...Đạo tiếp cận với cái TÂM chứ không phải qua con đường LÝ TRÍ[7]. Chính cái khó nhận ra nên cũng khó áp dụng trong việc truyền giáo nếu như chưa tiếp cận với tín ngưỡng này. Xét kỷ vấn đề này, có thể nhận thấy việc tín ngưỡng thờ cúng ông bà, tổ tiên cũng rất phù hợp với giáo lý Cơ đốc qua nhiều điểm tích cực.

2. Phân tích tập tục văn hoá địa phương:

Người Việt biểu hiện lòng hiếu thảo đối với người thân mình trong lúc còn sống và khi đã qua đời. Họ nghĩ linh hồn vẫn còn tồn tại và luôn nhận biết người đang sống. Biết linh hồn còn tồn tại sau khi chết nhưng không biết đang ở đâu. Thờ ông bà tổ tiên mà không biết thờ ai? nhưng vẫn có lòng thành cung kính. Tưởng nhớ ông bà, tổ tiên cũng chính là khía cạnh tâm linh mà chỉ có con người thật mới có được điểm này.Khi người ta dùng từ ngữ "đạo hiếu" cũng có nghĩa là nói lên bổn phận của mình đối với đối tượng tôn thờ. Ngày giỗ còn gọi là ngày kỷ niệm ngày qua đời, là ngày mà con cháu gặp nhau để kính nhớ tổ tiên và bày tỏ thái độ lòng thành của mình. Điểm chung, là người Việt thích thờ phượng, thích đi sâu vào yếu tố tâm linh và khao khát được ban phước[8].

III. TRUYỀN GIÁO


1. Thay đổi nhận thức:

Cơ đốc giáo cần phải có cái nhìn tích cực đối với tín ngưỡng này, cũng chớ nên quá khắc khe, tìm cách loại bỏ tất cả những gì đã tồn tại trong suốt mấy nghìn năm văn hiến. Nhiều người tin Chúa tiên phong trong vài chục thập niên trước đã tìm cách loại bỏ truyền thống để áp dụng triệt để theo cách thức của phương Tây, lấy điều răn 1, 2 làm tiêu chuẩn thờ phượng cho tất cả. Trong ngôn ngữ Do thái, chữ thờ cha kính mẹ có nghĩa là tôn vinh cha mẹ, vì cha mẹ là hình ảnh của Thiên Chúa. Mỗi dân tộc có hình thức bày tỏ lòng tôn kính này, người phương Tây ôm hôn, người Châu Á chấp tay vái lạy làm cho nhiều người bị dị ứng xem thái độ này như sự tôn thờ nên tìm cách bài xích. Những gia đình theo Tin lành còn giữ truyền thống bị lên án là làm sai lời Kinh thánh. Bị coi là thờ ma lạy quỉ. Những người tin Chúa đơn độc, khi đối diện với ngày lễ giỗ của gia đình cũng không dám dự phần tài chính vì sợ tham gia cúng tế hình tượng. Có một gia đình tôi được biết là gia đình Tin lành tổ chức lễ kỷ niệm ngày qua đời của cha mẹ để nhắc nhở về công lao hầu việc Chúa của cha mẹ cho anh em trong nhà noi theo, cầu nguyện để Chúa ban cho thêm năng lực theo và hầu việc Chúa. Việc làm này tồn tại qua nhiều năm, có vài bạn hữu được mời đến và nghe chia sẽ Phúc âm rồi tin Chúa. Một ngày nọ có vị mục sư mới chuyển về được gia đình mời đến. Sau đó cả nhà phải lắng tai nghe lời phê bình của vị Mục sư này một cách gay gắt, như: người chết đã về nước Chúa không cần phải kỷ niệm, hoặc TLH không khuyến khích làm việc này...thế là vài thân hữu đến dự lấy làm lạ quá vì Tin lành cấm thờ kính người quá cố.

Chúng ta cần phải phân biệt giữa sự tôn kính và tôn thờ. Sự tôn kính luôn là nền tảng đạo đức giúp cho người ta biết kính người trên, nhường nhịn người dưới không có nghĩa là thờ phượng. Thờ phượng Thiên Chúa là nhận biết xuất xứ loài người, sự yếu đuối bản thân do tội lỗi và ân sủng của sư cứu chuộc và biết chắc là hưởng được sự sống đời đời. Thiên Chúa không bao giờ chấp nhận sự bất hiếu của con người và Ngài luôn bày tỏ chính Ngài như hình ảnh người Cha (Hô-sê 11:1-4; Ê-sai 1:2; Giê-rê-mi 3:19) và bày tỏ Ngài như người Mẹ (Ê-sai 49:15; Hô-sê 11:8; Giê-rê-mi 31:20) . Sớm hơn nữa là điều răn ràng buộc con người vào mối quan hệ cha mẹ là phải HIẾU-KÍNH (Xuất 20:12). Khổng Tử có lời dạy, nếu chỉ Hiếu (yêu thương) mà không kính thì chẳng khác vì thương yêu loài vật. Đối với Cha-mẹ-Ông-Bà, ngoài việc HIẾU, ta còn phải KÍNH nữa.

2. Áp dụng các phương thức truyền giáo:

Trước hết, chúng ta nhận thấy Kinh thánh rất chú trọng đến việc hiếu kính. Trong Phúc âm Ma-thi-ơ Chúa Giê-xu đã nghiêm túc phê bình mấy người Pha-ri-si (Mat 15:3-9). Vì thế, người tham gia truyền giáo không nên tìm cách phá đổ mà nên thay thế hình thức truyền thống theo mô hình Cơ đốc giáo. Phao-lô là một trong những con người có kinh nghiệm truyền giáo trong nhiều bối cảnh văn hoá khác nhau. Trong thư tín cho người Cô-rinh-tô ông chia sẽ, Đối với người Do Thái, tôi trở nên giống như người Do Thái để chinh phục người Do Thái. Đối với người sống theo Kinh Luật, tôi sống như người theo Kinh Luật, dù tôi không bị Kinh Luật ràng buộc, để chinh phục những người theo Kinh Luật. 21Đối với những người không có Kinh Luật, tôi sống như người không Kinh Luật, không phải tôi không có Kinh Luật của Đức Chúa Trời, vì tôi có Kinh Luật của Chúa Cứu Thế, để chinh phục người không Kinh Luật.22 Đối với người yếu kém tôi trở nên như người yếu kém để chinh phục họ. Tôi trở nên mọi sự cho mọi người để bằng mọi cách cứu rỗi một vài người. I Côr9:20-22[9]. Cần phải xoá bỏ những thành kiến tôn giáo hoặc hình thức tín ngưỡng, như cúi đầu, chấp tay hoặc tổ chức kỷ niệm ngày qua đời của người thân, nhắc nhở công lao của họ khi còn sống để con cháu noi theo rồi thông công với nhau vui vẻ.

- Đối với gia đình mới tin Chúa, chớ nên quá khắc khe, nói rằng từ nay có Chúa rồi, đừng thờ ma lạy quỉ nữa...tôi đã đi cùng nhiều anh chị em truyền giáo từ nam ra bắc, khi nhiều người tin Chúa, trước lúc chuẩn bị cầu nguyện có một chị em tuyên bố như vậy đã làm cho họ thay đổi ý định tin Chúa. Kinh nghiệm của cá nhân, tôi thường hay khuyến khích họ tôn trọng người qua đời, giúp họ treo ảnh kỷ niệm trên tường cách trang nghiêm chứ không bảo đốt bỏ. Điều trái ngược, khi chúng ta nói linh hồn người chết ở một chỗ qui định cho người tin hay không tin, thì việc cúng tế cớ gì linh hồn người chết về ăn được, có chăng là tìm cơ hội để giải thích việc làm như vậy là vô ích, người chết không hưởng gì qua việc cúng, như vậy chẳng khác nào tự gạt mình. Nhiều người giải thích là không nên cúng người chết, theo cách nói này như là đồng thuận rằng linh hồn người chết có thể về ăn thật?.

- Hướng dẫn người nghe thực hành hiếu kính cha mẹ khi còn sống, khi chết phải chôn cất tử tế là trọn bổn phận làm con cháu. Mình nên chỉ dẫn cách nào đúng với Kinh thánh và lương tâm người mới tin cũng không bị cắn rứt và để người ta hiểu nhiều hơn về lời dạy của Chúa đối với người thân hơn là cố gắng đả phá. Trước đây có vài anh em còn yêu cầu dẹp bỏ bàn thờ vừa ngay khi mới tin Chúa. Ba mươi bốn năm trước đây, tôi là người cố gắng giải thích điều này với gia đình và dòng họ vì họ bảo tôi là người đi theo cái đạo bỏ ông bỏ bà.

- Giáo hội cần có văn bản chung, cụ thể cho từng trường hợp liên quan đến yếu tố văn hoá nhạy cảm như vậy, để khi áp dụng vào thực tế không bị kết án lẫn nhau.

IV. KẾT LUẬN

Trong khuôn khổ bài viết ngắn khó lòng trình bày hết tất cả những điều quan trọng liên quan đến vấn đề này. Người xây dựng nền tảng thần học cần phải nghiên cứu kỷ lưỡng những yếu tố nào không ảnh hưởng đến tín lý thì cứ áp dụng vào việc bảo tồn theo nền văn hoá truyền thống, không nên kỳ thị, thiếu suy xét khiến cho việc truyền giáo mất đi hiệu quả.Những gì Kinh thánh không lên án, chúng ta cũng đừng cố gắng để lên án. Nhìn lại kết quả trong suốt 100 năm qua, người ta đã làm mất đi kết quả truyền giáo hiệu quả vì cứ mãi lo việc xây "hàng rào"Việc áp dụng truyền giáo cho người thờ cúng tổ tiên cần phải được điều chỉnh lại, nhận định đúng bản chất của nó là gì? Cần được đưa ra thảo luận rộng rãi giữa các chức sắc tôn giáo, đưa ra quyết định bằng văn bản, và phổ biến trong các buổi học Kinh thánh, giúp cho tất cả mọi người hiểu rõ việc đúng, việc sai vì đây còn liên quan đến niềm tin nên không được tuỳ tiện áp dụng cho suy nghĩ cá nhân. Nếu vấn đề vướng mắc này được tháo gở, hi vọng người Việt nam cho dù có ảnh hưởng về vấn đề thờ cúng đến đâu cũng có thể vui lòng tiếp nhận Chúa, và chúng ta sẽ có cơ hội mang lại kết quả nhiều hơn, dâng sự vinh hiển lên cho Đức Chúa Trời.

Thư Mục:

- Viện Thánh Kinh Thần Học UCC. Tài liệu Giáo khoa BBL 506 Xuân 2009

- Giáo sư Võ thu Tịnh: Vấn đề thờ cúng tổ tiên.- Trần Quốc Vượng: Văn hoá Việt Nam

- Tìm tòi và suy ngẫm. Nxb VHTT , 2003

- Viện Nghiên cứu Tôn giáo : Kết qủa điều tra xã hội học tôn giáo năm 1995- 2007.

- Lm.Nguyễn Thế Thoại: Tôn giáo học và các tôn giáo lớn ở Việt nam- Đỗ Trinh Huệ: Văn hoá, Tôn giáo, Tín ngưỡng Việt nam. NXB Thuận hoá2006.

- Phan Kế Bính, Việt Nam Phong Tục. NXB Văn Học, 2008.Các Website:

- http://truongtoc.vn

- http://linhnghiem.vn

- http://batdongsan.com.vn

- http://btgcp.gov.vn



Phụ lục:

[1] , http://truongtoc.vn/info/Ban-sac-van-hoa-Viet/Tin-nguong-tho-To-tien-Ong-ba-o-Quang-Nam-Da-Nang-147/
[2] http://linhnghiem.vn/tin-ng%C6%B0%E1%BB%A1ng-th%E1%BB%9D-cung-t%E1%BB%95-tien/
[3] http://noithocung.batdongsan.com.vn/ban-to-tien-nguoi-viet-trong-ngay-tet-d-v4R90wQEg1.html
[4]http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/1426/Tin_nguong_tho_cung_to_tien_ban_sac_van_hoa_cua_nguoi_Viet
[5] Phan Kế Bính, Việt Nam Phong Tục. NXB Văn Học, 2008, trg.22
[6] LM.JMT. Nguyễn Thế Thoại, Tôn giáo học và các tôn giáo lớn ở Việt Nam.
[7] , Đỗ Trinh Huệ, Văn hoá, Tôn giáo, Tín ngưỡng Việt nam. NXB Thuận hoá 2006, trang 80-81
[8] , http://www.ofmvn.org/tinh-dong/huan-luyen/1049-Th%E1%BB%9D-c%C3%BAng-%C3%B4ng-b%C3%A0-c%C3%B3-h%E1%BB%A3p-v%E1%BB%9Bi-l%E1%BB%9Di-Ch%C3%BAa-d%E1%BA%A1y-trong-Kinh-th%C3%A1nh-kh%C3%B4ng

[9] , Kinh thánh Bản dịch mới 2002







Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email: luaphucamhp@yahoo.com


Trang Hoithanhkienbai Blog: Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..


SỨC KHỎE- ÐỜI SỐNG

Xem tất cả Sức khoẻ đời sống »

SẮC ÐẸP

Xem tất cả Sắc đẹp »

GIA CHÁNH

Xem tất cả Gia chánh »

MẸ & BÉ

Xem tất cả Mẹ và bé »