Hôm nay:

BÀI VIẾT- BÀI LUẬN- GHI CHÚ

Xem tất cả Các bài luận- viết »

ĐỜI SỐNG CƠ ĐỐC

Xem tất cả Đời sống Cơ Đốc»

CHUYÊN MỤC HỎI ĐÁP

Xem tất cả Câu hỏi đáp »

.
THƯ MỤC BẠN MUỐN XEM: HỎI ĐÁP
Hiển thị các bài đăng có nhãn HỎI ĐÁP. Hiển thị tất cả bài đăng

Luật Đạo Đức Của Môi- se Và Luật Đạo Đức Tân Ước

Đăng bởi Bùi Qúy Đôn | Thứ Năm, 21 tháng 3, 2019








 BÀI VIẾT NGẮN

“Luật đạo đức của Môi-se và Luật đạo đức Tân Ước giống và khác nhau thế nào?” 

Tiến sĩ/ Thạc sĩ/ Mục sư Bùi Qúy Đôn


Dẫn Nhập
          Luật pháp về nghĩa căn bản đó là những giáo huấn, dạy dỗ chỉ ra giới hạn nhằm thực hiện. Luật pháp là áp dụng giao ước vào đời sống. Ban bố luật pháp cũng là phần sự ban cho của Đức Chúa Trời về chính mình Ngài cho dân Ngài trong giao ước và bày tỏ cùng mục đích yêu thương trong giao ước (Xuất Ê-díp-tô 19: 5- 6). Như vậy đó, luật pháp tỏ bày cho dân Ngài thấy cách thức ăn ở làm sao để tương xứng với địa vị thuộc về Đức Chúa Trời và tình yêu Chúa dành cho họ - Đó chính là đạo đức. Vậy luật đạo đức của Môi-se và luật pháp đạo đức Tân ước giống và khác nhau như thế nào thì qua bài viết ngắn này, tôi mô tả bức tranh về điểm giống và khác nhau đó.

Luật Đạo Đức Của Môi-se
          Đạo đức là khoa học về hành vi.[1]   Đạo đức dạy chúng ta phải ăn ở, ứng xử như thế nào. Trong Cựu ước, đạo đức của Môi-se bắt nguồn từ lịch sử từ gia đình Áp-ra-ham đến Giô-sép rồi đến thời gian họ từng làm nô lệ tại Ê-díp-tô và đã được Đức Chúa Trời dùng quyền năng giải cứu. Vì thế dân Y-sơ-ra-ên đã vâng lời Chúa vì hai lý do chính:  Thứ nhất Chúa là Đức Chúa Trời quyền năng, làm những việc vĩ đại thứ hai Đức Chúa Trời đã làm những việc vĩ đại quyền năng cho họ. Chính bởi điều này sự bước đi ngay thẳng trước mặt Đức Chúa Trời là thành ngữ thông dụng chỉ về nếp sống đạo đức của dân sự Ngài đối với Ngài. Nó bắt nguồn từ giao ước chủ động của chính Ngài đối với dân Ngài, đó là do ân sủng của Ngài chớ không phải vì hành động tốt lành của dân Ngài:
Vì ngươi là một dân thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi; Ngài đã chọn ngươi trong muôn dân trên mặt đất, đặng làm một dân thuộc riêng về Ngài. Đức Giê-hô-va tríu mến và chọn lấy các ngươi, chẳng phải vì các ngươi đông hơn mọi dân khác đâu; thật số các ngươi là ít hơn những dân khác. Nhưng ấy vì Đức Giê-hô-va thương yêu các ngươi, và giữ lời thề mà Ngài đã lập cùng tổ phụ các ngươi, nên Đức Giê-hô-va nhờ tay mạnh rút các ngươi ra, chuộc khỏi nhà nô lệ, và cứu khỏi tay Pha-ra-ôn, vua xứ Ê-díp-tô. (Phục truyền luật lệ ký 7: 6- 8)
         
          Không chỉ như vậy, đạo đức của Môi-se cũng là một mối liên hệ cá nhân giữa con người với Chúa (ví dụ trong Xuất Ê-díp-tô ký 20: 1- 11) và giữa con người với nhau (ví dụ trong Xuất Ê-dip-tô ký 20: 12- 17) và tình yêu thương làm nền tảng (ví dụ Xuất Ê-díp-tô 20: 5). Dân Y-sơ-ra-ên vâng lời Ngài vì tình yêu, chứ không phải vì sợ hãi hình phạt. Họ phải vâng lời Ngài đó là nếp sống chứng tỏ họ là dân của Ngài:
Vậy nên, phải nhận biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, ấy là Đức Chúa Trời, tức Đức Chúa Trời thành tín, giữ sự giao ước và nhân từ đến ngàn đời cho những người yêu mến Ngài và vâng giữ các điều răn Ngài; và Ngài báo ứng nhãn tiền cho những kẻ ghét Ngài, mà hủy diệt chúng nó đi. Ngài không trì hoãn cùng kẻ nào ghét Ngài đâu, sẽ báo ứng nhãn tiền cho kẻ đó. Vậy, khá cẩn thận làm theo những điều răn, luật lệ, và mạng lịnh mà ta truyền cho ngươi ngày nay. (Phục truyền luật lệ ký 7: 9- 11)

Trong nếp sống dân Y-sơ-ra-ên, họ vâng lời Đức Chúa Trời bởi tình yêu, và cũng bởi tình yêu dân Ngài cũng sống đời sống phân cách xứng đáng là dân của Ngài: “Hãy nên thánh, vì Ta là Thánh” (Lê-vi-kí 20: 26; 19: 2; 11: 44- 45). Đây là một đời sống dọn mình, phân rẽ mà Đức Chúa Trời đòi hỏi dân Y-sơ-ra-ên cần sống. Được Đức Chúa Trời lựa chọn, biệt riêng, trở nên dân của Ngài, là một nước thầy tế lễ[2]  thì phải có đời sống nên thánh cho Chúa. Bởi sự đòi hỏi áp dụng này, một số vấn đề đạo đức của Môi-se được đưa ra những lời giáo huấn, lời dạy dỗ cụ thể dần dần để dân sự Ngài vâng theo như không được cưới gả dân ngoại, về thực hành tôn giáo, các nghi lễ, các việc tỏ lòng thương xót đối với nô lệ, người nghèo khó, dân ngoại, … thậm chí có cả trong kinh doanh, việc làm. Mặc dù khi chúng ta đọc luật pháp của Môi-se thấy như có phần nghiêm nhặt, nhưng lại chứa đựng đầy sự khoan dung, cởi mở và đầy tình yêu thương. Đây chính là cái nôi hướng tới mà đạo đức Tân ước bày tỏ.

Luật Đạo Đức Tân Ước
          Cựu ước là tiền thân của Tân ước, mà chúng ta vừa tìm hiểu về đạo đức của Môi-se, liệu đạo đức Tân ước có khác hay không?
          Bắt đầu Tân ước là các sách Phúc âm, bày tỏ vì tình yêu thương của Đức Chúa Trời đối với toàn nhân loại nên Ngài đã chủ động ban Chúa Giê-xu cho nhân loại, hầu cho ai tin Con ấy đều nhận được sự sống đời đời (Giăng 3: 16). Qua Chúa Giê-xu, một giao ước mới được thiết lập. Đó là ân sủng của Ngài dành cho tất cả nhân loại. Trong giao ước mới này, không còn phân biệt dân Y-sơ-ra-ên hay dân ngoại nữa mà tất cả được thành một dân, trở thành nước thầy tế lễ cho Ngài:
 “Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài;  anh em ngày trước không phải là một dân, mà bây giờ là dân Đức Chúa Trời, trước không được thương xót, mà bây giờ được thương xót. (I Phi-e-rơ 2: 9-10)
Bởi tình yêu đó, Cơ Đốc nhân sẵn sàng vui lòng vâng giữ lời Ngài: “Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta.” (Giăng 14: 15, 21).  Và cũng bởi tình yêu đó, trong Đức Chúa Giê-xu, Ngài đòi hỏi chúng ta cũng phải có đời sống nên thánh mà chính sứ đồ Phi-e-rơ đã trích dẫn trong Lê-vi-kí 20: 26; 19: 2; 11: 44- 45 để viết trong thư gởi cho các tín hữu là: “như Đấng gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình, bởi có chép rằng: Hãy nên thánh, vì ta là thánh.” (I Phi-e-rơ 1: 15- 16)

So Sánh
Như vậy, so sánh giữa luật đạo đức Môi-se và luật đạo đức Tân ước về nguyên tắc nội tại thì không có gì thay đổi (vẫn y nguyên) mặc dù điều bên ngoài đúng là đã thay đổi. Mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời với dân Ngài, và mối liên hệ giữa con người với con người thì cũng không thay đổi. Nếu có sự khác biệt thì đó là sự khác biệt do áp dụng theo phong tục, tập quán của lãnh thổ, đất nước mà thôi.  Chứ giá trị đạo đức của nguyên tắc trong hai luật đạo đức này đề cập đến là những điều bất biến, và những mối liên hệ không hề thay đổi. Đây chính là tính vĩnh hằng của Lời Ngài: “Mọi xác thịt ví như cỏ, Mọi sự vinh hiển của nó ví như hoa cỏ.Cỏ khô, hoa rụng, Nhưng lời Chúa còn lại đời đời.” (I Phi-e-rơ 1: 24- 25).
Ví Dụ Về Vấn Đề Nô Lệ:
+ Cựu Ước:
Nô lệ tồn tại. Mặc dù rất nhiều trong thế giới cổ xưa chế độ này vừa lan tràn rộng rãi vừa hết sức tàn ác. Người nô lệ chẳng được quyền lời nào cả và bị đối xử gần như thú vật. Nhưng luật đạo đức của Môi- se, đảm bảo cho nô lệ một số quyền lợi, cả đến việc nghỉ ngơi và tham dự lễ lạc nữa. Ví dụ như chỉ phục dịch chủ sáu (06) năm, rồi được tự do với một ít tiền (Xuất 12: 2; Phục 15: 13). Và người làm chủ nô được dạy dỗ giáo huấn là nhớ rằng nô lệ cũng là những con người cần được đối xử trân trọng – phải luôn nhớ rằng chính họ đã từng bị bắt làm nô lệ tại Ê-díp-tô mà Đức Chúa Trời đã dùng quyền năng mà giải cứu họ ra khỏi (Phục 15: 15). Còn đối với người nữ nô lệ thì phải được bảo vệ đặc biệt (Xuất 21: 9-11; Phục 21: 10- 14). Qua cách cử xử tốt lành như vậy mà chủ nô đáng phải làm trong luật đạo đức của Môi-se thì ông Greene nhận định rằng: “Cách giải quyết vấn đề nô lệ của luật pháp Cựu ước là một cách thức vừa giảm thiếu sự áp bức vừa nuôi dưỡng tư tưởng hướng tới việc hủy bỏ nó” (Trong Kaiser 1972, 227. Vietbible 2.0 sách Thần Học Cựu ước).
+ Tân Ước:
Khi đọc trong các sách Phúc Âm, chúng ta thấy rằng mười hai vị (12) môn đồ của Chúa Giê-xu không có một ai thuộc hệ thống chế độ nô lệ, chẳng có ai là nô lệ, cũng chẳng có ai là chủ nô. Nhưng trong bài giảng dạy của Chúa Giê-xu thì Ngài nhấn mạnh mối liên hệ giữa các môn đệ với Ngài tương tự như mối liên hệ giữa các tôi tớ với chủ họ: “Môn đồ không hơn thầy, tôi tớ không hơn chủ” (Ma-thi-ơ 10: 24 xem thêm Giăng 13: 16). Và ngay chính Chúa Giê-xu cũng tự nhận vai trò sứ mạng là một tôi tớ: “Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người” (Mác 10: 45). Và trong câu chuyện Chúa Giê-xu rửa chân cho các môn đồ Giăng 13: 4- 17, Chúa Giê-xu đã nêu gương khích lệ cho các môn đồ nên phục vụ lẫn nhau.
Rồi đến khi Hội Thánh được thành lập, tại nhiều nơi trong Hội Thánh được thiết lập trên cơ sở là anh em của nhau là “người nhà”[3]  bao gồm có cả chủ nô lẫn tôi tớ: “Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn đàn ông hoặc đàn bà; vì trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em thảy đều làm một” (Ga-la-ti 3: 28 xem thêm I Cô-rinh-tô 7: 22). Và sứ đồ Phao-lô thì cũng không lên án, chống đối lại chế độ nô lệ nhưng ông nói rằng nếu có cơ hội thuận tiện để tự do thì hãy cố gắng  (I Cô-rinh-tô 7: 21). Và cũng chính ông lại đưa ra lời dạy dỗ nữa là người nô lệ phải đặt mục tiêu làm đẹp lòng Đức Chúa Trời qua cung cách phục vụ của họ:
 “Hỡi kẻ làm tôi tớ, hãy run sợ, lấy lòng thật thà mà vâng phục kẻ làm chủ mình theo phần xác, như vâng phục Đấng Christ,  không phải vâng phục trước mặt người mà thôi, như các ngươi kiếm cách làm đẹp lòng người ta, nhưng phải như tôi tớ của Đấng Christ, lấy lòng tốt làm theo ý muốn Đức Chúa Trời.  Hãy đem lòng yêu mến hầu việc chủ, cũng như hầu việc Chúa, chẳng phải như hầu việc người ta, vì biết rằng bất luận tôi mọi hay tự chủ, mỗi người đều sẽ nhận lãnh của Chúa tùy việc lành mình đã làm. Hỡi anh em là người làm chủ, hãy đối đãi kẻ tôi tớ mình đồng một thể ấy, đừng có ngăm dọa chúng nó, vì biết rằng mình với chúng nó đều có một chủ chung ở trên trời, và trước mặt Ngài chẳng có sự tây vị ai hết.”  (Ê-phê-sô 6: 5- 9)
Mối dây liên hệ do tình huynh đệ anh chị em trong Chúa với chủ nô là tín hữu phải  là một lý do thêm vào để phục vụ cho thật tốt hơn. Mặc khác, tình cảm trên hết của người làm chủ cũng phải là tình huynh đệ anh chị em (xem Phi-lê-mô 16) và chắc chắn cũng phải đối xử với các nô lệ của mình bằng thái độ lòng yêu mến, công bằng (Ê-phê-sô 6: 9) và tuyệt đối công bằng -“Hỡi người làm chủ, hãy lấy điều công bình chánh trực đãi tôi tớ mình, vì biết rằng anh em cũng có một Chủ mình ở trên trời.” (Cô-lô-se 4: 1).
Như thế, rõ ràng rằng tình huynh đệ của các con cái Đức Chúa Trời nổi bật hơn hẳn tinh thần nô lệ, chủ nô. Vì tất cả mọi thành viên trong gia đình Ngài thảy đều được giải phóng khỏi các xiềng xích. Mối phân biệt giai cấp đó không thể tác động hay ảnh hưởng đến mối quan hệ huynh đệ trong Chúa nữa. Nơi nào có mối quan hệ huynh đệ trong Đấng Christ nơi đó không còn chế độ nô lệ. Điều này đã bày tỏ được rõ ý nhận định mà ông Greene đã nói ở trên: “… nuôi dưỡng tư tưởng hướng tới việc hủy bỏ nó”.

Kết Luận         

          Vậy, luật đạo đức của Môi- se và luật đạo đức Tân ước về nguyên tắc nội tại thì vẫn y nguyên, bởi là đều đến từ Chúa, là Lời của Chúa. Nếu có khác biệt thì chỉ là cách áp dụng vào hoàn cảnh phong tục, tập quán, đất nước khác nhau mà thôi ví dụ như thời dân Y-sơ-ra-ên Cựu ước và Tân ước, vvv…. Mặc dù luật đạo đức của Môi-se có tỉ mỉ, nhân văn ra sao thì bởi xác thịt chúng ta không thể làm nổi:“Vì điều chi luật pháp không làm nổi, tại xác thịt làm cho luật pháp ra yếu đuối, thì Đức Chúa Trời đã làm rồi: Ngài đã vì cớ tội lỗi sai chính Con mình lấy xác thịt giống như xác thịt tội lỗi chúng ta, và đã đoán phạt tội lỗi trong xác thịt” (Rô-ma 8: 3). Tạ ơn Chúa, trong Đấng Christ chúng ta được dạn dĩ bước đi trong đạo đức Cơ Đốc. 



[1] Tài liệu tham khảo sách Đạo Đức Học, trang 1.
[2] Xuất Ê-díp-tô 19: 6
[3] I Phi-e-rơ 2: 9


Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email: luaphucamhp@yahoo.com


Trang Hoithanhkienbai Blog: Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..


Những Trách Nhiệm Của Người Tin Chúa Với Cộng Đồng Xã Hội ....

Đăng bởi Bùi Qúy Đôn | Thứ Hai, 28 tháng 1, 2019








Tiến sĩ/ Thạc sĩ Bùi Qúy Đôn





Vấn đáp 1: Trách nhiệm của Cơ Đốc Nhân đối với Chúa, với xã hội, với tha nhân, với đất nước, với những kẻ lạc lối: 


Đặc tính của Đạo đức học Cơ Đốc giáo mang đặc tính cộng đồng, dưới đây là những trách nhiệm mà Cơ Đốc Nhân cần phải có:
1.1  Đối với Chúa
Ngay từ lúc đầu, Đức Chúa Trời đã tạo dựng loài người nhằm mục đích thờ phượng Ngài và tận hưởng Ngài mãi mãi. Dó đó, Cơ Đốc Nhân trước tiên đối với Chúa chúng ta cần phải quay trở lại đúng mục đích mà Đức Chúa Trời tạo dựng.
Đức Chúa Trời không phải “kể công” trong công cuộc cứu chuộc tức là Ngài không cứu chúng ta rồi bắt chúng ta phải làm việc cho Ngài. Mà những việc chúng ta làm trên đất này cho Chúa, cho xã hội, cho tha nhân, cho đất nước và đối với những người lạc lối phải xuất phát từ tấm lòng biết ơn của chúng ta đối với Ngài, là người phản ánh hình ảnh của Ngài trên đất –  là “làm bàn tay của Ngài làm việc, làm miệng để nói, làm chân để ra đi … thay cho Chúa làm người đại diện cho Ngài”.
Tiếp theo, Cơ Đốc nhân cần bày tỏ tấm lòng của mình qua việc vâng giữ Điều Răn Lớn (Mác 12: 30- 31), Đại Mạng Lệnh  (Ma-thi-ơ 28: 18- 20) và những việc làm đối với (trong) Hội Thánh (Vì Chúa làm đầu Hội Thánh và Hội Thánh là thân thể của Chúa thấy được. Nếu chúng ta không làm được đối với điều chúng ta thấy được là Hội Thánh thì khó có thể làm được với Đấng mà chúng ta không thấy I Giăng 4: 20).
1.2  Với xã hội
Chúa cứu chúng ta, không để chúng ta sống “biệt riêng” ra một chỗ sống tách biệt với xã hội. Chúa kêu gọi chúng ta “là muối của đất” “là ánh sáng của thế gian” (Ma-thi-ơ 5: 13- 16), Chúa gọi chúng ta sống ở giữa thế gian, đi vào thế gian (Giăng 15: 18- 24, Ma-thi-ơ 28: 18- 20). Như vậy Cơ Đốc nhân có đời sống biệt riêng cho Chúa nhưng lại không tách biệt với thế gian. Chúa Giê-xu đã nhập thế, nhập thể, đã yêu thương, phục vụ, tha thứ, tìm và cứu chuộc … chứ không “xuất thế”.  Và với một cương vị chung nào đó thì toàn thể nhân loại này đều là con của Đức Chúa Trời, được tạo dựng theo hình ảnh của chính Ngài. Do đó chúng ta là con của Chúa được kêu gọi trước, hãy có đời sống sao cho cộng đồng xã hội xung quanh chúng ta được tươi đẹp, tốt hơn, hạnh phúc hơn (Mác 12: 31 “Nầy là điều thứ hai: Ngươi phải yêu kẻ lân cận như mình”).. Chúng ta được Chúa ban cho những ân tứ khác nhau (Rô-ma 12: 3- 8, II Cô-rinh-tô 12) đâu chỉ riêng phục vụ/ trách nhiệm gây dựng Hội Thánh mà còn trong cả cộng đồng xã hội nữa. Với tôi, Cơ Đốc nhân không quan tâm đến cộng đồng xã hội trước là xung quanh mình (sau là xa hơn, sau nữa là xa hơn nữa) thì người đó là đang khước từ trách nhiệm mà thôi!
1.3  Với tha nhân
Tha nhân là một phần trong xã hội thì Cơ Đốc nhân cũng không thể tách trách nhiệm tha nhân riêng ra với trách nhiệm xã hội được. Dù là tha nhân, hay là khách lạ họ đều được đáng tôn trọng. Chúng ta cần phải đạt đến một “trình độ” cao thượng của khuôn vàng thước ngọc được bày tỏ trong Kinh Thánh đó là: “Hãy làm cho người khác điều các con muốn họ làm cho mình” (Ma-thi-ơ 7:12). Không chỉ những vậy, chúng ta hãy nhìn xem Chúa Giê-xu đã làm gì đối với tha nhân “Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người.” Mác 10: 45.  Chúa Giê-xu đã đến, Ngài đã tiếp đón, Ngài đã phục vụ, và Ngài đã hy sinh cho tha nhân. Ngài đã dành toàn bộ cuộc đời mình cho tha nhân. Như thế điều tốt lành cho Cơ Đốc nhân chúng ta là chúng ta cũng không hạn chế cuộc đời mình cho đời sống của tha nhân, đỉnh điểm đó là tinh thần hy sinh- mất sự sống mình (Ma-thi-ơ 10: 39).
·        Đến đây làm tôi nhớ đến bài hát CHÍNH TA ĐÃ CHỌN CON, lời bài hát rất có ý nghĩa cho đạo đức cơ đốc đối với xã hội và tha nhân (Các bạn có thể nghe được thêm phần khích lệ  https://www.youtube.com/watch?v=z-zpeX0D-Gw).
1.4  Với đất nước
Đối với đất nước, Cơ Đốc nhân hãy là công dân tốt:
- Kính trọng / tôn trọng các cán bộ nhà nước (I Phi-e-rơ 2: 17)
- Vâng phục chính quyền nhà nước . (Rô-ma 13: 1, I Phi-e-rơ 2: 13- 14). Vì chính quyền nhà nước là thể chế và là cơ quan đại diện của Đức Chúa Trời nên chẳng ai được miễn trừ sự vâng phục ấy cho đến khi nào sự vâng phục ấy đi ngược lại ý muốn của Đức Chúa Trời vốn được bày tỏ rõ ràng trong Lời Chúa (Công vụ các sứ đồ 5: 29; Đa-ni-ên 3: 1- 18; 6: 10).
- Đóng đúng thuế, nghĩa vụ của mình đối với nhà nước đòi hỏi (Rô-ma 13: 6-7 Ma-thi-ơ 22: 15- 21).
- Phục vụ chính quyền nhà nước theo ý muốn của Chúa (Tít 3: 1) Việc tham gia đáp ứng với sự kêu gọi vào nghĩa vụ dân sự hay quân sự đó là điều phải lẽ bởi việc đó mang lại quyền công bằng, quyền sinh tồn, giải phóng khỏi áp bức nô lệ của con người trong việc làm xứng đáng của một đất nước.
- Cầu nguyện cho đất nước, các cán bộ nhà nước (I Ti-mô-thê 2: 1- 3)
1.5  Với những kẻ lạc lối
Cụm từ kẻ lạc lối theo tôi thường được hiểu là những Cơ Đốc nhân đang đi sai Lời Chúa. Đối với họ mình cầu nguyện cho họ, và nhẹ nhàng khuyên bảo, khải đạo dìu dắt họ trở lại con đường đúng.
Nếu họ đã bị kỉ luật trong cộng đồng Hội Thánh thì mình hãy có tấm lòng trách nhiệm như một người tha nhân, đang cần được cứu rỗi.

Vấn đáp 2: Ngày nay Cơ đốc nhân có nên tham gia chính trị không? tại sao có? Tại sao không? 


Với tôi, tôi chia Cơ Đốc nhân thành 2 nhóm: Nhóm 1 là những mục sư, Nhóm 2 là người tin Chúa không phải là mục sư.
Thì câu hỏi ngày nay Cơ Đốc nhân có nên tham gia vào chính trị không, thì tôi xin trả lời như sau:
- Cơ Đốc nhân nói chung (trong đó có cả nhóm 2) đều được tham gia vào chính trị, và làm những việc của chính trị. (Tùy thuộc vào từng đất nước, thể chế, luật pháp của nước đó).  Vì sao? Đứng trên một cái nhìn chung thì chính trị, thể chế của một đất nước là bởi Chúa, do Chúa mà có. Như vậy phục vụ trong lãnh vực chính trị cũng là phục vụ Chúa cho đến khi nào sự chính trị, lãnh đạo đó cố ý chống đối đi ngược lại ý muốn của Đức Chúa Trời (lập luận trên phần 1.4). 

- Với Cơ Đốc nhân trong lãnh vực, chức vụ mục sư – đó là Thiên chức Đức Chúa Trời giao thác thì để chuyên tâm trong chức vụ (I Phi-e-rơ 5: 2- 4) đó thì mục sư (nhóm 1) không nên tham gia hay thực hiện những việc làm lãnh đạo trong chính trị. Điều này không có nghĩa là không phải là 1 công dân tốt, hay không được làm cố vấn cho những người lãnh đạo/ cán bộ chính trị.  Thiên chức mà Đức Chúa Trời giao cho là mục sư ngang hàng thậm chí còn cao hơn chức vụ làm chính trị. Còn Cơ Đốc nhân nhóm 2 thì không có sự ràng buộc  trong chức vụ Thiên chức mục sư, thì hãy nhờ cậy Chúa ban sự khôn ngoan để làm tốt trách nhiệm (phần 1.4 ở trên) hay làm chính trị tốt trong sự kính sợ Chúa.

- Nhưng cũng rất hay, vì đó là ý tưởng và đường lối của Đức Chúa Trời cho từng cá nhân mà Ngài chọn lựa và sử dụng trong thời điểm tốt lành của Ngài. Chúa có quyền dùng mục sư vừa chăn bầy, lại có ảnh hưởng đến chính trị, làm chính trị như Môi-se, Giô-suê, Đa-vít, Nê-hê-mi … Đôi khi Chúa lại kêu gọi những người đang làm chính trị, cán bộ của đất nước lại trở thành mục sư như Phao-lô ,…  hoặc những người đang làm chính trị lại vào học hay được cố vấn bởi các nhà thần học, mục sư. Tất cả đều là đường lối và ý tưởng của Chúa, Ngài muốn làm điều gì Ngài muốn làm cho đúng thời điểm của Ngài. Và đường lối, ý tưởng của Ngài cao hơn đường lối ý tưởng của chúng ta./.





Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email: luaphucamhp@yahoo.com


Trang Hoithanhkienbai Blog: Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..


Hỏi. Đức Tin Và Việc Làm

Đăng bởi Bùi Qúy Đôn | Thứ Bảy, 3 tháng 6, 2017








Câu hỏi: 


Khi nói rằng, con dân Chúa phải vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời thì mới được ở lại trong sự cứu rỗi (đã có do bởi đức tin) và mới nhận được sự sống đời đời, thì có phải là đã thêm việc làm công đức vào sự được cứu, hay không?

Trả lời: 


[HTTL Kiền Bái] Một con cái thật của Chúa, khi tin nhận Chúa Giê-xu sẽ được tha tội và trở nên thánh mỗi ngày. Sự nên thánh này sẽ tạo cho người đó có những việc làm tốt và đẹp lòng Đức Chúa Trời một cách tự nhiên chứ không phải ép mình làm việc đó. Sự khác biệt ở đây là con cái thật của Chúa là những kẻ được chọn vì Chúa đã có kế hoạch cứu họ ngay từ khi họ còn chưa ra đời, Chúa đã biết ai là người được chọn, vì Chúa là toàn tri, nên sự hiểu biết của Ngài vượt qua cả không gian và thời gian. Còn chúng ta thì không thể biết được điều này, vì vậy mà mọi Cơ đốc nhân vẫn phải đi rao truyền Tin Lành để mọi kẻ được nghe.

“Trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời, 5 bởi sự thương yêu của Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ, theo ý tốt của Ngài, 6 để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong Con yêu dấu của Ngài! 7 Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài…” (Ê-phê-sô 1: 4)

Con cái Chúa đã được Chúa chọn từ buổi sáng thế, bản tính tự nhiên của những người được chọn là nên thánh, và yêu mến Đức Chúa Trời mà họ vâng giữ điều răn. Vì vậy mà việc vâng giữ điều răn của Ngài là một điều tự nhiên và nhẹ nhàng. Còn với thế gian, để làm được điều lành như Chúa dạy thì đối với họ rất là khó khăn và nặng nề.

“1 Ai tin Ðức Chúa Giê-xu là Ðấng Christ, thì sanh bởi Ðức Chúa Trời; và ai yêu Ðức Chúa Trời là Ðấng đã sanh ra, thì cũng yêu kẻ đã sanh ra bởi Ngài.
2 Chúng ta biết mình yêu con cái Ðức Chúa Trời, khi chúng ta yêu Ðức Chúa Trời và giữ vẹn các điều răn Ngài.
3 Vì nầy là sự yêu mến Ðức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài. Ðiều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề, 
4 vì hễ sự gì sanh bởi Ðức Chúa Trời, thì thắng hơn thế gian; và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta.
5 Ai là người thắng hơn thế gian, há chẳng phải kẻ tin Ðức Chúa Giê-xu là Con Ðức Chúa Trời hay sao?” ( I Giăng 5:1-5)

Những việc lành mà chúng ta làm ra, không phải là bởi chúng ta tạo ra việc lành đó mà chính là Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo.

Chúng ta được cứu hoàn toàn phụ thuộc vào ân điển của Ngài, rồi sau khi được cứu thì chúng ta sẽ tự nhiên làm được những điều mà Chúa dạy.

“8 Ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, mà là sự ban cho của Thiên Chúa.
9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, để cho không ai khoe mình; 
10 vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đấng Christ Jesus để làm những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo.” (Ê-phê-sô 2: 8-10)


Còn ai quan niệm rằng chúng ta muốn được cứu thì ngoài việc tin Chúa Giê-xu chúng ta phải thêm việc lành nữa… là hoàn toàn sai. Điều này chính Giáo hội Công Giáo La-Mã đã từng mắc phải. Bởi vì nếu chúng ta phải làm thêm được việc lành để được cứu thì sự hy sinh của Chúa Giê-xu trên thập tự giá là chưa đủ. Từ đây sẽ nảy sinh rất nhiều vấn đề sai lầm khác như: nếu tôi làm chưa đủ thì cần phải đọc nhiều kinh sám hối, phải vào ngục luyện tội, phải nhờ các anh em khẩn cầu các Thánh cầu thay cho tôi… vân vân và vân vân thì mới được cứu.


Qúy Đôn






Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email: luaphucamhp@yahoo.com


Trang Hoithanhkienbai Blog: Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..


Hỏi. Con trẻ mà bị chết ngay từ khi trong bụng mẹ liệu có được vào Thiên đàng không?

Đăng bởi Bùi Qúy Đôn | Thứ Tư, 31 tháng 5, 2017








Câu hỏi: 


Con trẻ mà bị chết ngay từ khi trong bụng mẹ liệu có được vào Thiên đàng không?



Trả lời: 


Hiện nay có 2 quan điểm giải kinh về vấn đề này:

Quan điểm thứ nhất:

Một số nhà giải kinh cho rằng con trẻ khi chết không được vào Thiên đàng vì còn có tội của tổ tông là A-đam và Ê-va truyền lại, hay còn gọi là “nguyên tội”. Kể cả khi con trẻ được cha mẹ là người tin Chúa làm lễ dâng con lên Thiên Chúa cũng không có nghĩa là con trẻ có thể được vào Thiên đàng, mọi sự đều phải trông cậy ở ân điển của Thiên Chúa chứ không phải bởi ý người.

“Nhưng bất cứ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Thiên Chúa, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sinh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sinh bởi Thiên Chúa vậy.”
(Giăng 1: 12-13)

Một người được cứu bởi sự tin nhận của bản thân người đó nơi Chúa Giê-xu mà thôi.

“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.”
(Giăng 3: 16)

Quan điểm thứ hai:

Các nhà giải kinh bảo vệ quan điểm này cho rằng Thiên Chúa là đấng nhân từ và thương xót và Ngài sẽ ban ân điển tùy theo cơ hội mà mỗi người nhận được khi còn sống. Nhất là khi đối với con trẻ còn quá bé và chưa thể có ý thức để có thể tiếp nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa thông qua Chúa Giê-xu. Họ chứng minh con trẻ là vô tội và sẽ được cứu rỗi bởi ơn thương xót của Chúa Giê-xu thông qua đoạn Kinh Thánh sau:

“Họ bắt con trai con gái mình Mà cúng tế ma quỷ.
Làm đổ máu vô tội ra, Tức là máu của con trai con gái mình, Mà họ cúng tế cho hình tượng xứ Ca-na-an; Nên xứ bị ô uế bởi máu ấy.”
(Thi Thiên 106: 37-38)

“Song Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng ngăn trở; vì nước thiên đàng thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy.”
(Ma-thi-ơ 19: 14)

“Quả thật ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi không đổi lại và nên như đứa trẻ thì chẳng được vào thiên đàng đâu”.
(Ma-thi-ơ 18: 3)


Qúy Đôn



Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email: luaphucamhp@yahoo.com


Trang Hoithanhkienbai Blog: Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..


Sự khác nhau giữa Đạo Tin Lành và Công Giáo

Đăng bởi Bùi Qúy Đôn | Thứ Năm, 25 tháng 5, 2017








Câu hỏi: 

Xin cho tôi được biết nhiều hơn về đạo Tin Lành và Thiên Chúa Giáo (hay còn gọi là Công Giáo). Giữa hai đạo Tin Lành và Thiên Chúa Giáo có gì khác biệt với nguồn gốc lịch sử hình thành?

Trả lời: 


[HTTL Kiền Bái] Trước hết, chúng tôi xin được trình bày với bạn những điểm căn bản nhất của niềm tin Tin Lành để từ đó có thể đưa ra sự khác biệt giữa Công Giáo và Tin Lành. Niềm Tin Tin Lành tin vào Đức Chúa Trời theo như Kinh Thánh bày tỏ. Kinh Thánh Sáng Thế Ký 1:1 cũng cho chúng ta biết “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo vũ trụ này, tạo ra bạn và tôi và là Đấng tối cao toàn quyền điều khiển mọi sự trên thế giới thọ tạo của Ngài. Đức Chúa Trời là Đấng rất nhân từ yêu thương nhưng cũng hết sức thánh khiết, Ngài không chấp nhận tội lỗi. Xuất Êdíptôký 34:6-7 Đức Chúa Trời nói về mình rằng “Giêhôva! Giêhôva! Là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ơn huệ và thành thực, ban ơn đến ngàn đời, xá đều gian ác, tội trọng và tội lỗi; nhưng chẳng kể kẻ có tội làvô tội và nhơn tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời…”

Bởi đức thánh khiết của Ngài, Ngài không chấp nhận một tội lỗi nào dù chỉ trong tư tưởng, lời nói. Tiêu chuẩn công chính của Chúa được trình bày trong Kinh Thánh. Nếu bạn đọc sẽ rõ những tiêu chuẩn đó thật cao quá so với khả năng “làm lành” của bất kỳ một con người nào thiện hảo nhất. Ví dụ Chúa dạy chúng ta phải hết lòng yêu kính Chúa, Chúa dạy chúng ta nếu ai chỉ ghét người khác thì phạm tội cũng như tội giết người, Chúa dạy phải yêu thương kẻ thù nghịch mình, Chúa dạy phải hạ mình coi người khác tôn trọng hơn mình… và còn nhiều tiêu chuẩn khác nữa của Ngài mà khi nghiêm túc xét mình trước những tiêu chuẩn đó thì chúng ta sẽ phải nhận ra rằng chúng ta có quá nhiều tội. Không ai trong chúng ta, dù tốt lành đến đâu, có thể được kể là “không có tội trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng ta không tài nào cố gắng nổ lực để được chấp nhận trong mắt Đức Chúa Trời và đáng phải nhận hình phạt nơi hỏa ngục vì tội lỗi mình. Không có con đường nào cho chúng ta, ngoại trừ một con đường duy nhất mở ra bởi tình thương của Đức Chúa Trời: Vì tình yêu thương, Đức Chúa Trời không muốn bỏ mặc con người trong hình phạt tội lỗi nên đã thực hiện một chương trình cứu rỗi cho con người: Đức Chúa Trời đã sai Chúa Giêxu, cũng là Đức Chúa Trời, đến thế gian làm con người và chịu chết trên thập tự giá, chịu hình phạt thay cho con người, “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết” (Rôma 5:8). Cũng giống như một người phạm một tội gì đó phải chịu án tù. Luật pháp không thể “tha trắng án” người đó được nhưng có một người khác “vô tội” chịu đứng ra nhận án phạt cho người đó thì người đó có thể được trắng án. Chúa Giêxu là Đấng hoàn toàn không có tội, nhưng Ngài đã chấp nhận đứng vào chỗ chúng ta để chịu án thay cho chúng ta để tiêu chuẩn công bình của Đức Chúa Trời được thỏa đáng mà con người cũng thoát khỏi hình phạt đời đời nơi hỏa ngục. Thế thì tình trạng bế tắc kể trên của con người chỉ được giải quyết bằng một giải pháp duy nhất là TIN NHẬN ƠN CỨU CHUỘC CỦA CHÚA GIÊ-XU CHO MÌNH. Con người không thể cố gắng làm lành để được cứu vì dù làm lành mấy thì lấy gì bù vào cho những tội đã phạm? Chỉ có một cách là một Đấng không hề có tội chịu thay án phạt cho con người mà thôi và con người chỉ có thể bởi lòng tin nhận lấy công lao của Ngài cho mình để mình được cứu. Thế thì Chúa Giêxu mà chắc hẳn bạn thường nghe nhắc đến khi nói đến đạo Tin Lành là Đức Chúa Trời xuống thế gian làm người cách đây hơn 2000 năm, để chết thay cho loài người. Ngài đã sống lại sau ba ngày và về trời.

Theo hiểu biết của chúng tôi, vấn đề khác biệt lớn nhất giữa niềm tin Thiên Chúa Giáo và niềm tin Tin Lành là vấn đề con người có nhờ công đức mà được sự cứu rỗi hay không. Niềm tin Tin Lành tin rằng con người được cứu hoàn toàn bởi đức tin nơi sự cứu chuộc của Chúa Giêxu mà không nhờ một chút nào vào công đức của bản thân người đó, nghĩa là một người được cứu chỉ bởi nhận mình có tội và nhận lấy công lao cứu chuộc của Chúa Giêxu cho mình mà thôi. Ở điểm này, niềm tin Công Giáo cho rằng sự cứu rỗi của con người có sự góp phần của công đức của người đó nữa, rằng bởi mình tin và cố gắng làm lành thì mình được cứu chớ chẳng phải do tin Chúa chết thay mình mà thôi. Dù rằng Thiên Chúa Giáo cũng tin Chúa Giêxu chết thay cho tội lỗi con người, nhưng để được cứu, con người còn phải làm điều thiện nữa.

Niềm tin Tin Lành dựa trên nền tảng Kinh Thánh Êphêsô 2:8,9 nói “Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời, ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình.” Kinh Thánh cũng dạy chúng ta làm điều tốt, Galati 6:9 nói “Chớ mệt nhọc về sự làm lành.” Tuy nhiên, vấn đề là thứ tự của nó: nghĩa là chúng ta phải TIN ĐỂ ĐƯỢC CỨU, rồi bởi là Con Chúa, chúng ta LÀM LÀNH BỞI MUỐN LÀM THEO LỜI CHÚA. Chúng ta không cố gắng làm lành để có công mà được cứu vì công trạng của chúng ta không thể cứu chúng ta.

Một vấn đề khác biệt nữa giữa niềm tin Công Giáo và Tin Lành là việc cầu xin qua trung gian bà Mari và các thánh. Giáo hội Công Giáo cho phép tín hữu cầu nguyện với Đức Chúa Trời qua trung gian là đức mẹ Mari và các thánh. Niềm tin Tin Lành chỉ cầu nguyện với Đức Chúa Trời qua một mình Chúa Giêxu mà thôi vì tin rằng mọi người khác dù tốt lành đến đâu cũng chỉ là con người với những tội lỗi của mình và đều cần được cứu, chỉ có Chúa Giêxu là Đức Chúa Trời làm người, là Đấng trọn vẹn không tội lỗi. Kinh Thánh dạy trong 1Timôthê 2:5, “Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Giêxu Christ, là người.” Theo đó, chúng ta chỉ có thể cầu nguyện thông qua (hay “trong danh”) Chúa Giêxu mà thôi.

Martin Luther
Về mặt lịch sử giáo hội, từ ban đầu chỉ có một giáo hội mà thôi. Từ khi Chúa Giêxu sống lại, về trời trong thế kỷ thứ nhất, các môn đồ Ngài vâng lời Ngài đi ra rao giảng đạo Chúa khắp nơi và có nhiều người tin theo Chúa. Những người này họp nhau học lời Chúa, cầu nguyện, thờ phượng Chúa… và được gọi là “Christian” nghĩa là người theo Đấng Christ hay người theo Chúa Cơ Đốc, mà ngày nay gọi ngắn lại là Cơ Đốc Nhân. Vậy ban đầu chỉ có Cơ Đốc Giáo mà thôi. Tuy nhiên cùng với thời gian, Cơ Đốc Giáo phát triển lan rộng, có quy cũ tổ chức hẳn hoi. Cùng với sự phát triển đó cũng có những sự lệch lạc trong cách giảng dạy và giải thích Kinh Thánh, những nghi thức tôn giáo do con người đặt ra xen vào giáo hội. Vì vậy mà càng lúc giáo hội Cơ đốc càng đi xa khỏi sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Đến thế kỷ 16, Martin Luther, một tu sĩ trong dòng tu Cơ Đốc, đã đứng ra kêu gọi giáo hội sửa đổi những sai trật để đi đúng lại với niềm tin ban đầu của Kinh Thánh. Vấn đề chính ông đưa ra là sự cứu rỗi chỉ bởi đức tin mà thôi mà không bởi chút công trạng nào của con người. Con người không thể dùng tiền bạc hay công trạng nào của mình để mua lấy sự cứu rỗi. Ông cũng đề nghị bỏ đi một số hình thức tôn giáo mê tín sai lạc của giáo hội lúc bấy giờ. Giáo hội lúc ấy đã bác bỏ đề nghị của Martin Luther và vì thế mà Luther cùng với một số người khác đã lập nên giáo hội Cải Chánh mà ngày nay tiếng Việt gọi là giáo hội Tin Lành. Như đã trình bày ở trên, vấn đề khác biệt lớn nhất đưa đến sự thành lập giáo hội Tin Lành là vấn đề con người được cứu chỉ bởi đức tin nơi sự cứu chuộc của Chúa Giêxu mà thôi mà hoàn toàn không bởi chút công đức nào.


Sau đây là một số điểm khác nhau để dễ so sánh giữa hai Giáo Hội Tin Lành và Công Giáo: 



1/ Đạo Công Giáo tin nhận tất cả 64 quyển Kinh Cựu Ước, trong khi Đạo Tin Lành chỉ tin nhận 39 quyển Kinh Thánh Cựu ước.

2/ Đạo Công Giáo coi Kinh Thánh, các nghị quyết Cộng đồng và quyết định của Giáo Hoàng là cơ sở pháp lý; trong khi Đạo Tin Lành cho rằng Kinh Thánh là chuẩn mực căn bản và duy nhất của giáo lý và đức tin. Ngoài Kinh Thánh ra không còn văn bản nào khác.

3/ Đạo Công Giáo chủ yếu sử dụng hai loại kinh Nguyện và kinh Bổn (sách giáo lý) trong sinh hoạt tôn giáo; trong khi Đạo Tin Lành chỉ sử dụng Kinh Thánh làm nền tảng trong sinh hoạt mọi tôn giáo.

4/ Đạo Công Giáo cho rằng Đức Mẹ Mari đồng trinh trọn đời và đề cao tôn sùng bà, coi bà là Mẹ của Thiên Chúa; trong khi Đạo Tin Lành chỉ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giê-xu và chỉ coi bà là mẹ trần thế của Chúa Kitô, nên chỉ tôn trọng chú không tôn sùng thờ lạy bà Mari

5/ Đạo Công Giáo đề cao tôn sùng các Thánh, trong khi Đạo Tin Lành chỉ kính trọng và noi gương các Thánh, không đề cao, tôn sùng.

6/ Đạo Công Giáo chủ trương hành hương viếng các nơi Thánh để được ơn phúc; trong khi Đạo Tin Lành không chủ trương hành hương viếng các nơi Thánh.

7/ Đạo Công Giáo tin có Thiên Đàng, địa ngục và luyện ngục, Đạo Tin Lành chỉ tin có Thiên đàng, địa ngục chứ không có luyện ngục.

8/ Đạo Công Giáo có bảy phép bí tích gồm: rửa tội, thêm sức, giải tội, thánh thể, xức dầu Thánh, truyền chức Thánh, hôn phối; Đạo Tin Lành chỉ tin và thực hiện lễ rửa tội, (báp-têm), lễ tiệc Thánh, ngoài ra Đạo Tin Lành còn thực hiện một số lễ hôn phối, lễ dâng con trẻ cho Thiên Chúa.

9/ Đạo Công Giáo thực hiện lễ rửa tội cho trẻ sơ sinh bằng vẩy nước và đặt tên Thánh cho người được rửa tội, trong khi Đạo Tin Lành chỉ thực hiện phép này gọi là báp-têm cho người trưởng thành, chủ yếu bằng cách dìm mình dưới nước có tính chất biểu tượng nhằm tuyên xưng đức tin của tín đồ trước Hội Thánh và có ý nghĩa thuộc linh là chết đi cuộc đời tội lỗi cũ và tái sinh một cuộc đời mới trong Chúa Giê-xu. Nước trong lễ Báp-têm không có giá trị rửa tội mà chính đức tin của mỗi tín đồ nơi Chúa Giê-xu mới là điều quan trọng để người đó được tha tội. Đa số hệ phái Tin Lành không đặt tên Thánh cho người chịu phép báp-têm.

10/ Đạo Công Giáo nhận phép biến thể trong lễ Thánh thể (bánh mì, rượu nho biến thành Mình Chúa và Máu Chúa), Đạo Tin Lành không công nhận thuyết biến thể trong phép Tiệc Thánh và cho rằng đó là kỷ niệm để nhớ đến Chúa Giê-xu qua sự chết của Ngài, bánh và rượu chỉ tượng trưng cho Mình Chúa và Máu Chúa.

11/ Đạo Công Giáo qui định tín đồ xưng tội với Thiên Chúa qua Linh mục, Đạo Tin Lành quan niệm tín đồ chỉ xưng tội với Thiên Chúa.

12/ Đạo Công Giáo thường sử dụng hình thức cầu nguyện chung bằng các bài Kinh nguyện đã soạn sẵn, trong khi Đạo Tin Lành, tín đồ tự cầu nguyện nói lên ước vọng của mình với Thiên Chúa như con cái nói chuyện với Cha và chỉ cầu nguyện hai bài chung là Kinh Lạy Cha và Kinh Tin Kính (Bài tín điều các Sứ đồ).

13/ Đạo Công Giáo khi cầu nguyện có sử dụng tràng hạt, quỳ lạy, làm dấu Thánh, Đạo Tin Lành không sử dụng tràng hạt, không quỳ lạy, không làm dấu Thánh khi cầu nguyện.

14/ Đạo Công Giáo thờ hình tượng và ảnh; Đạo Tin Lành không thờ hình tượng và ảnh vì cho rằng trong kinh Cựu Ước Thiên Chúa đã nói đến việc không thờ hình tượng.

15/ Đạo Công Giáo lấy lễ là chính, bắt buộc các tín đồ phải thực hiện các nghi lễ theo qui định, trong Đạo Tin Lành, sinh hoạt tôn giáo lấy sự hiểu biết lẽ Đạo qua Kinh Thánh, tín đồ không nhất thiết phải thực hiện các lễ nghi.

16/ Đạo Công Giáo thường xây dựng nhà thờ theo kiểu Gô-tích nhiều hoa văn họa tiết cầu kỳ và có Thánh quan thầy bảo hộ, trong khi nhà thờ Đạo Tin Lành có lối kiến trúc hiện đại, trong ngoài nhà thờ không có tranh tượng, chỉ đặt Thập tự giá biểu tượng Chúa Giê-xu chịu nạn và không có Thánh quan thầy bảo hộ.

17/ Đạo Công Giáo xây dựng một giáo hội thống nhất, có cơ quan trung ương là Giáo Triều Vatican; Đạo Tin Lành không có một tổ chức giáo hội thống nhất, chia ra thành nhiều hệ phái, mỗi hệ phái có nhiều giáo hội độc lập.

18/ Đạo Công Giáo điều hành giáo hội chịu ảnh hưởng của cơ chế phong kiến, quyền lực tập trung vào Giáo Hoàng; trong khi Đạo Tin Lành điều hành giáo hội theo cơ chế dân chủ, tín đồ được tham dự các hoạt động của giáo hội một cách trực tiếp hoặc theo cơ chế đại cử tri.

19/ Đạo Công Giáo có hàng giáo phẩm với phẩm trật theo thứ tự trên dưới khác nhau: Giáo Hoàng, Hồng Y; Giám Mục; Linh Mục;…. Trong hàng giáo phẩm Đạo Tin Lành gồm các chức: Mục sư; Trưởng lão và Chấp sự. Một số hệ phái Đạo Tin Lành có cả nữ phái tham gia hàng giáo phẩm.

20/ Đạo Công Giáo hàng giáo phẩm duy trì chế độ độc thân có thần quyền rất lớn, trong khi Đạo Tin Lành hàng giáo phẩm được lập gia đình và không có thần quyền.

21/ Đạo Công Giáo hình thành hệ thống dòng tu nam, nữ và thường được chia làm nhiều dòng tu theo quy chế địa phận, dòng tu theo qui chế Toà Thánh, Đạo Tin Lành không có duy trì dòng tu nào.

Thật ra vấn đề bạn nêu lên là một đề tài lớn. Trong giới hạn cho phép, chúng tôi xin được trình bày như trên. Ước mong câu trả lời của chúng tôi giúp ích cho sự tìm hiểu của bạn.

* Xem thêm
                  Tin Lành Giáo Trong Dòng Lịch Sử Cơ Đốc Giáo


Qúy Đôn sưu tầm

 (Nguồn tài liệu: tinlanh.com và Tạp chí Công tác Tôn giáo của Ban Tôn Giáo Chính Phủ)




Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email: luaphucamhp@yahoo.com


Trang Hoithanhkienbai Blog: Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..


Nước và Thánh Linh?

Đăng bởi Bùi Qúy Đôn | Thứ Năm, 10 tháng 3, 2016








Trong Tin lành Giăng 3:5: “Đức Chúa Giê-xu đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời”. Cho thấy nước có vai trò quan trọng trong sự cứu rỗi. Vậy nước này là gì?

Ngày nay có rất nhiều Cơ Đốc nhân đã hiểu chưa đúng về NƯỚC trong Giăng 3: 5, thậm chí có giáo sư giả, và tà giáo đã dùng câu KT này để nói về một chân lý cứu rỗi khác.



1. Hiểu và giải thích sai về từ NƯỚC


1.1.  Hiểu và giải thích sai về từ NƯỚC khi hiểu NƯỚC là chỉ về phép báp tem bằng nước. Vì:
- Thứ nhất, ngay trong văn mạch Tin Lành Giăng đoạn 3 không hề nói trực tiếp về phép báp tem bằng nước.
- Thứ hai, nếu hiểu là phép bap-tem thì Người được báp- tem … mới vào Nước Đức Chúa Trời, thì điều này sai với chân lý cứu rỗi trong .



1.2  Hiểu và giải thích sai về từ NƯỚC khi hiểu NƯỚC là chỉ về việc dùng nước tẩy gội tội lỗi. Vì nếu một người đã chịu dùng nước tẩy gội tội lỗi một lần thì người đó vào được nước Đức Chúa Trời, điều này cho thấy rằng sự cứu rỗi phụ thuộc vào việc làm (được tẩy gội bằng nước) không đúng với lẽ thật Êphê-sô 2: 8.


2. NƯỚC có nghĩa là gì?


2.1 NƯỚC có nghĩa ĐỨC THÁNH LINH. Vì văn mạch có nói đến sự tái sinh nên “nước” ở đây nên hiểu là tác động thanh tẩy và đổi mới của Đức Thánh Linh, và việc nhắc lại Đức Thánh Linh sau đó là một cách điệp ngữ nhấn mạnh thường gặp của người Do Thái, như chúng ta cũng có thể thấy trong Ma-thi-ơ 3:11: “Đấng ấy sẽ làm phép báp tem cho các ngươi bằng Đức Thánh Linh và bằng lửa” (ở đây rõ ràng lửa cũng chỉ về tác động của Đức Thánh Linh và có sự cố ý điệp ngữ để nhấn mạnh).

2.2 NƯỚC có nghĩa là nói về CHÚA GIÊ-XU tức là Chúa dùng để chỉ về chính Ngài.
Nếu hiểu theo vế đối của văn mạch thì Nước còn có nghĩa là bày tỏ sự sinh sản tức là sự sinh ra của một con người và ở đây từ "nước" hàm muốn ý để ám chỉ sự giáng sanh của Chúa Giê-xu. I Giăng 5:6-7 “Ấy chính Đức Chúa Giê-xu Christ đã giáng sinh và chịu chết, chẳng những Ngài sống thật sự trong xác thịt con người mà Ngài còn chịu chết như một con người; ấy là Đức Thánh Linh đã làm chứng, vì Đức Thánh Linh tức là lẽ thật”.
Igiăng 5:6   6 Ấy chính Đức Chúa Jêsus Christ đã lấy nước và huyết mà đến, chẳng những lấy nước mà thôi, bèn là lấy nước và huyết;
Như thế câu này giải thích " một người  nhờ nước (tức là Chúa Giê-xu) và Thánh Linh mà sinh ra thì vào vương quốc Đức Chúa Trời", là lý đúng.

2.3 NƯỚC còn có nghĩa là biểu tượng về LỜI CHÚA nữa. Nước: biểu tượng Lời Đức Chúa Trời (Kinh Thánh)Ê-phê-sô 5: 26- 27: 
26 để khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Đạo làm cho Hội tinh sạch, 27 đặng tỏ ra Hội thánh đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được ở trước mặt Ngài.

Như vậy hiểu câu đó là "một người nhờ nước (tức là Lời Chúa) và Thánh Linh mà sinh ra thì vào vương quốc Đức Chúa Trời", cũng là lý đúng.


Bùi Quý Đôn
Ngày 2/3/2016







Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email: luaphucamhp@yahoo.com


Trang Hoithanhkienbai Blog: Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..


Tại Sao ... Lại Là "Con Đường Hẹp"?

Đăng bởi Bùi Qúy Đôn | Chủ Nhật, 31 tháng 1, 2016







Tại sao nói Chúa yêu thương mà con đường dẫn đến Thiên Đàng 
còn được gọi là "vào cửa hẹp"? 


Xin chào Thầy ..., thật Đức Chúa Trời vì tình yêu lớn đã yêu nhân loại chứ không phải bởi việc làm của con người, và chính tình yêu đó Ngài đã ban CON MỘT của Ngài là Chúa Giê-xu cho nhân loại là CON ĐƯỜNG DUY NHẤT để con người được cứu rỗi, nhận được sự sống đời đời.

Và điều kiện duy nhất để nhận được sự sống đời đời hay Thiên Đàng là TIN và NHẬN LẤY

Thật ngày nay nhiều người (ngay trong HT cũng có)chỉ TIN mà thôi mà không NHẬN LẤY.
Họ TIN là có Chúa Giê-xu và Ngài đã chịu chết trên thập tự giá cách đây hơn 2000 năm, họ TIN là Chúa Giê-xu đã sống lại từ cõi chết sau ba ngày bị chôn trong hang đá, họ TIN những công việc Chúa Giê-xu đã làm trên đất cách đây khoảng hơn 2000 năm, nhưng họ đâu có NHẬN lấy những công việc mà Chúa Giê-xu đã làm cho chính mình, vì mình.
Nếu TIN Chúa Giê-xu thì Ma-quỷ cũng Tin mà, nên cửa rất rộng
Nhưng TIN - NHẬN thì là rất hẹp rồi. Vì NHẬN bao hàm hàm sự công nhận có Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá; và tin rằng Đức Chúa Trời yêu thương nhân loại; và con người hoàn toàn sa ngã; và cũng phải tin rằng Chúa Giê-xu là Con Độc Sanh đã nhập thế, nhập thể làm người và chịu chết trên thập tự có quyền ban cho nhân loại sự sống đời đời và giải thoát con người khỏi quyền lực của tội lỗi duy nhất trong Ngài mà thôi và con xưng nhận Ngài là Cứu Thế, là Vua của cuộc đời mình nữa.


     KT chép:  "Bởi vì có nhiều kẻ được gọi, mà ít người được chọn." Ma-thi-ơ 22: 14




Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email: luaphucamhp@yahoo.com


Trang Hoithanhkienbai Blog: Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..


Người không tin Chúa ... còn tốt hơn người tin Chúa

Đăng bởi Bùi Qúy Đôn | Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2015








Có một chị tín đồ định gã con gái cho người ngoại và nói rằng: " người nầy tốt lắm, tốt hơn những Cơ đốc nhân sống trong nhà thờ, nhưng có đời sống bậy bạ" Chúng ta nên trả lời chị thế nào đây?

    Xin chào chị, em đồng ý với chị rằng cũng có rất nhiều thanh niên chưa tin Chúa Giê-xu nhưng vẫn có đời sống rất tốt. Có thể  là do nhờ sự giáo dục của gia đình và xã hội. Bên cạnh đó,  em cũng đồng ý rằng có nhiều thanh niên đã đến nhà thờ nhưng đời sống vẫn chưa được thay đổi nhiều, thậm chí có nhiều điểm cũng không bằng cả thanh niên người ngoại. Tuy nhiên, nếu xét về lãnh vực hôn nhân gia đình của Cơ Đốc thì lời Chúa dạy rất rõ ràng:

"Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin. Bởi vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có thông đồng nhau được chăng? 15 Đấng Christ và Bê-li-an Bê-li-an là một tên riêng của quỉ Sa-tan nào có hòa hiệp chi, hay là kẻ tin có phần gì với kẻ chẳng tin? 16 Có thể nào hiệp đền thờ Đức Chúa Trời lại với hình tượng tà thần? Vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ; ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ làm dân ta.  Bởi vậy Chúa phán rằng:
Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó,
Đừng đá động đến đồ ô uế,
Thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi:
18 Ta sẽ làm Cha các ngươi,
Các ngươi làm con trai con gái ta,
Chúa Toàn năng phán như vậy." II Cô-rinh-tô 6: 14- 18

Là người tin Chúa thật lòng, em tin chị chắc chắn cũng muốn con mình có một hôn nhân đẹp ý Đức Chúa Trời đó là cả hai đều là con cái Chúa (II Cô-rinh-tô 6: 14). Điều này không phải là kỳ thị tôn giáo mà là vì Chúa Toàn Năng, Toàn Tri biết rằng muốn có một gia đình hạnh phúc thật thì vợ chồng phải đồng tâm tình, đồng tư tưởng và đồng đức tin.

A-mốt 3: 3 Nếu hai người không đồng ý với nhau, thì há cùng đi chung được sao?

Xem thêm Phục truyền 22: 10, I Cô-rinh-tô 6: 14- 18

Còn người tín hữu trong nhà thờ có đời sống bậy bạ mà chị nói kia, chúng ta cũng rất dễ hiểu thôi: Đơn giản chính vì họ bậy bạ nên họ mới cần Cứu Chúa cứu họ mà. Khi họ cứ gần Chúa thì em tin họ sẽ có sự thay đổi, sẽ có kết quả tốt hơn, vì Chúa Giê-xu phán rằng: "Ai cứ ở trong ta ... thì họ sinh ra lắm trái; vì ngoài ta các ngươi chẳng làm chi được." Giăng 15: 5. Do vậy, nếu chị và con gái của chị cứ kính sợ Chúa và  tiếp tục kiên trì cầu nguyện thì em tin chắc rằng Chúa Toàn Năng, Toàn Tri sẽ chúc phước cho hôn nhân của con gái chị với một người nam kính sợ Chúa, bởi đó là điều Chúa muốn. Em cũng tin chị sẽ không còn suy nghĩ  rằng không có một thanh niên Cơ Đốc nào tốt.


Xin Chúa giúp chị cùng con gái của chị tiếp tục kính sợ Chúa trong hôn nhân vì hôn nhân là một sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời:

"Hãy kính sợ Đấng Christ mà vâng phục nhau.
 22 Hỡi kẻ làm vợ, phải vâng phục chồng mình như vâng phục Chúa, 23 vì chồng là đầu vợ, khác nào Đấng Christ là đầu Hội thánh, Hội thánh là thân thể Ngài, và Ngài là Cứu Chúa của Hội thánh. Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình, như Đấng Christ đã yêu Hội thánh, phó chính mình vì Hội thánh...   Vậy nên người đàn ông phải lìa cha mẹ mà dính díu với vợ mình, hai người cùng nên một thịt. Sự mầu nhiệm ấy là lớn, tôi nói về Đấng Christ và Hội thánh vậy. 33 Thế thì mỗi người trong anh em phải yêu vợ mình như mình, còn vợ thì phải kính chồng.

" Ê-phê-sô 5: 21- 23, 32- 33

>>> Xem tiếp tại đây




Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email: luaphucamhp@yahoo.com


Trang Hoithanhkienbai Blog: Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..


Mâu thuẫn ... khi sinh ra trong máng cỏ?

Đăng bởi Bùi Qúy Đôn | Thứ Ba, 23 tháng 12, 2014








Câu hỏi:

 Tôi nghe mấy người Tin Lành nói Chúa Jêsus là dòng dõi vua Đa-vít của dân Do thái. Vậy tại sao Chúa không giáng sanh nơi hoàng cung, mà phải chịu sanh ra trong chuồng chiên máng cỏ. Như vậy có mâu thuẫn hay không?

Trả lời:

Cảm ơn vị thính giả đã gởi cho tôi câu hỏi thích hiệp với mùa Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus Giáng Sinh. Trong câu hỏi này có 3 vấn đề cần nói rõ.

Thứ nhất: Tại sao Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời lại chọn dân Do Thái để Ngài giáng sinh vào đời?

Thật sự đây là thắc mắc của rất nhiều người đến nỗi có câu thơ rằng: Đức Chúa Trời kỳ quái, lại chọn dân Do Thái.
Để hiểu được lý do Chúa Jêsus chọn dân Do Thái, chúng ta thấy các dân tộc trên thế giới thường đưa ra nguồn gốc dân tộc mình từ những câu chuyện mang tính chất thần thoại mà các sử gia gọi là Huyền sử. Trong khi đó, qua Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời, cũng như qua lịch sử thế giới cho biết dân Do Thái có nguồn gốc từ một người tên Áp-ra-ham. Áp-ra-ham sống vào khoảng 2.000 năm trước khi Chúa Jêsus giáng sinh tại một thành phố thuộc nước I-rắc ngày nay. Áp-ra-ham đã được Đức Chúa Trời kêu gọi ra khỏi quê hương thờ hình tượng của ông đi đến một xứ mà Chúa sẽ chỉ cho. Dù ông không biết xứ đó ở đâu nhưng ông vẫn vâng lời Chúa.
Bởi sự vâng lời đó, ông được Chúa ban nhiều lời hứa trong đó có lời hứa: “Các dân tộc trong thế gian sẽ nhờ dòng dõi ông mà được phước.” Lời hứa này được ứng nghiệm kỳ diệu khi Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời đã chọn dân Do Thái để vào đời. Ngài bằng lòng làm một người Do Thái để thực hiện chương trình cứu rỗi không phải chỉ cho dân Do Thái mà cho các dân tộc khác, trong đó có dân tộc Việt Nam chúng ta.
Kinh Thánh xác nhận rằng: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian,” trong đó có dân tộc Việt Nam chúng ta, không phải chỉ yêu thương dân Do Thái, đến đổi đã ban Chúa Jêsus chịu chết trên cây thập tự đền tội cho các dân tộc, hầu cho hễ ai tin Chúa Jêsus, dù họ là dân tộc nào cũng không bị hư mất mà được sự sống đời đời.
Cảm ơn Chúa, trong khi các danh nhân, giáo chủ được sinh ra cách tình cờ làm người thuộc dân tộc này dân tộc kia, thì Chúa Jêsus gián sinh đã được báo trước hàng ngàn năm chứng minh Ngài là Đức Chúa Trời Tạo Hoá vì yêu thương loài người nên đã giáng thế cứu người.

Thứ hai: Tại sao Chúa Jêsus lại chọn giáng sinh thuộc dòng dõi Vua Đa-vít? Vua Đa-vít là ai?

Một lần nữa Kinh Thánh cũng như lịch sử thế giới cho chúng ta biết Đa-vít là một người Do-thái sống trước khi Chúa Jêsus giáng sinh1.000 năm, từ một người chăn chiên quê ở làng Bết-lê-hem, đã được Đức Chúa Trời ban ơn làm vua nước Do-thái. Vua Đa-vít là vị vua đầu tiên đem lại sự thống nhất cho nước Do-thái và làm cho nước Do-thái trở nên hùng mạnh, bắt phục các lân bang.

Đặc biệt dù là vua, nhưng khi Đa-vít phạm bất cứ tội nào bị Chúa quở trác, Đa-vít đều hạ mình ăn năn xin Chúa tha thứ. Vì tấm lòng luôn kính sợ Chúa như vậy, vua Đa-vít được Chúa hứa dòng dõi ông sẽ ngồi trên ngôi nước Do Thái đời đời.

Và để hoàn thành lời hứa này, Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời đã giáng sinh làm một người Do-thái thuộc dòng dõi vua Đa-vít, ứng nghiệm lời tiên tri loan báo 1.000 năm trước khi Ngài giáng sinh.

Một điều kỳ diệu nữa là 500 năm trước khi Chúa Jêsus giáng sinh, thì lời tiên tri trong Kinh Thánh báo trước địa điểm Chúa Jêsus giáng sinh là tại làng Bết-lê-hem khu vực thành Giê-ru-sa-lem. Bạn có biết không khi bà Ma-ri mang thai Chúa Jêsus thì bà đang ở tại làng Na-xa-rét phía Bắc, còn làng Bết-lê-hem ở phía Nam cách xa 300 dặm, tức khoảng 450 cây số. Tại bây giờ quý thính giả đang sống ở thời đại giao thông thuận tiện và nhanh qua phi cơ, xe hơi, tài hỏa tốc hành, nên 450 cây số không đáng ngại, nhưng hơn 2000 năm trước, lúc Chúa Jêsus sanh ra thì phương tiện di chuyển tốt nhất là bằng ngựa, lạc đà, lừa, la, là những phương tiện dành cho nhà giàu, còn Giô-sép và Ma-ri làm gì có phương tiện đó.

Thế thì làm sao cho một phụ nữ mang thai gần ngày sanh bằng lòng đi một đoạn đường dài 450 cây số hầu cho lời tiên tri ứng nghiệm? Chúa đã dùng chiếu chỉ của Hoàng Đế La-mã lúc bấy giờ là Âu-gút-tơ ra lệnh kiểm tra dân số, ai sanh ở đâu thì phải về nơi đó khai tên với mục đích đánh thuế toàn đế quốc trong đó có nước Do-thái đang bị La-mã đô hộ. Do đây là lịnh của vua, nên dù gần ngày sanh không muốn đi, Ma-ri cũng phải đi về Bết-lê-hem và đang khi Giô-sép và Ma-ri ở Bết-lê-hem thì ngày sanh của Ma-ri đã đến, người sanh con trai đầu lòng, lấy khăn bọ con mình, đặt nằm trong máng cỏ, vì nhà quán không có đủ chổ ở.

Một điều quan trọng nữa, Kinh Thánh cho biết Chúa Jêsus đã đến thế gian lần thứ nhất làm Cứu Chúa bằng cách đó để chịu chết đền tội cho nhân loại. Rồi Chúa Jêsus sẽ trở lại thế giới này lần thứ hai để hủy diệt các chủ quyền, các thế lực, kể cả quỉ Sa-tan và ma quỷ. Ngài sẽ làm Vua trên muôn vua, ngồi trên ngôi Đa-vít cai trị một Vương Quốc trên trời, dưới đất, bên dưới đất đời đời, ban thưởng những người tin nhận Ngài làm Cứu Chúa, hình phạt những người từ chối không tin thờ Ngài.

Cám ơn Chúa đã cho bạn biết Chúa Jêsus giáng sinh thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Xin Chúa cho bạn mau mau tin thờ Ngài trong mùa Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus Giáng Sinh này, hầu cho khi Chúa Jêsus trở lại làm Vua muôn vua, bạn không bị hình phạt mà được hưởng phước đời đời.

Thứ ba: Tại sao Chúa Jêsus không giáng sinh nơi hoàng cung mà lại giáng sinh nơi chuồng chiên máng cỏ?

Tôi xin được hỏi lại bạn một câu nhé. Nếu Chúa Jêsus giáng sinh nơi hoàng cung thì bạn và tôi có thể vào cung điện gặp Chúa được không? Không biết bạn có vào được không, nhưng phần tôi thì chắc chắn không vào được rồi. Nhất là hoàng cung lúc bấy giờ do vua Hê-rốt là vị vua cực kỳ hung ác. Vua này dám giết mẹ, giết vợ, giết 3 đứa con. Lúc gần chết, dân chúng ăn mừng thì ra lệnh giết hàng ngàn người. Nếu Chúa Jêsus giáng sinh trong hoàng cung đó thì không ai có thể gặp Ngài.

Cảm ơn Chúa, Chúa Jêsus đã giáng sinh nơi chuồng chiên máng cỏ đê hèn, hầu cho ai cũng có thể đến với Ngài để được cứu rỗi, dù là nghèo như những người chăn chiên hoặc giàu có học thức khôn ngoan như các nhà thông thái từ phương Đông đến tìm Chúa.

Bạn có biết không, Kinh Thánh còn làm chứng rằng chẳng những Chúa Jêsus giáng sinh nơi chuồng chiên máng cỏ đơn sơ mà còn chọn sống cuộc sống 33 năm rưỡi trên đất trong một gia đình nghèo, Chúa Jêsus nếm trải hết mọi nhọc nhằn, cực khổ, vui buồn của kiếp người như mọi người. Bạn sẽ hỏi Chúa Jêsus sống như vậy để làm gì? Bạn hãy nghe Kinh Thánh trả lời:

  •          Chúa Jêsus đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta…
  •         Vì quả thật, không phải Chúa Jêsus đến thế gian để giúp các thiên sứ bèn là giúp dòng dõi Áp-ra-ham. Nhơn đó, Ngài phải chịu làm giống như anh em mình trong mọi sự.
  •         Vì chính Chúa Jêsus chịu khổ trong khi bị cám dỗ nên Ngài có thể cứu những kẻ bị cám dỗ.
  •        Vì chúng ta có một Chúa Jêsus là thầy tế lễ thượng phẩm bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội. Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng.

Bạn ơi, một sự cứu giúp mà không phát xuất từ sự cảm thông của chính người cứu giúp, thì đó chỉ là sự bố thí. Chúa Jêsus không đến thế gian để bố thí, mà Chúa Jêsus giáng sinh làm người trên đất để ban cho nhân loại tình yêu thương, chẳng những bằng lòng chết thay cho bạn và tôi mà Ngài còn muốn làm một người bạn thân chia sẻ vui buồn trong kiếp người và sẵn sàng cứu giúp chúng ta trong mọi hoàn cảnh ở đấu cũng như ở trời.

Nhân mùa Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus Giáng Sinh này, tôi xin Chúa cho bạn được gặp Chúa, mời Chúa giáng sinh trong lòng mình để bạn cũng như chúng tôi cùng nhau bước đi trên Con Đường Vĩnh Phúc. Có một người đã gặp Chúa Jêsus và được Chúa Jêsus ngự vào lòng, đã viết ra kinh nghiệm của mình như sau:

Gặp gỡ Chúa Jêsus, biến đổi cuộc đời mình.
Gặp gỡ Chúa Jêsus, hưởng nhận ơn tái sinh (nghĩa là được Chúa Jêsus ban cho đời sống mới).
Gặp gỡ Chúa Jêsus, chân thành mình gặp mình (nghĩa là nhận diện rõ chính mình, sống thật với cuộc đời).
Gặp gỡ Chúa Jêsus, nảy sinh tình đệ huynh (nghĩa là biết yêu thương người chung quanh).

Đời sống ý nghĩa biết bao! Bạn đừng chần chờ nữa nhé!




Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email: luaphucamhp@yahoo.com


Trang Hoithanhkienbai Blog: Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..


Những Dấu Hiệu Ngoại Tình

Đăng bởi Bùi Qúy Đôn | Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2014








Tiến sĩ Mỹ Duyệt là tiến sĩ tâm lý trong cộng đồng Công Giáo đã tư vấn về những dấu hiệu ngoại tình như sau: 

Trường hợp 1:

Cao và Trinh quen nhau hai năm và cưới nhau được 8 năm. Hai năm quen nhau và bồ bịch rất tuyệt vời. Tám năm chồng vợ cũng là một chuỗi dài hạnh phúc. Tiền bạc, tài chánh không là vấn đề. Nhà cửa, xe cộ không là vấn đề. Của chìm, của nổi trong các chương mục hai người trên dưới không kém 2 triệu Mỹ kim. Trong gia đình có người quản gia, người lo cơm nước, và những việc trong nhà. Nhưng rồi khoảng 6 tháng nay tự nhiên bầu khí gia đình, cuộc sống hôn nhân bắt đầu gặp sóng gió.

Cao tỏ ra lơ là trong việc làm ăn, buôn bán. Anh không còn tha thiết việc thương mại nữa. Thỉnh thoảng về nhà trễ, và có khi trễ hơn 2 giờ sáng với những lý do rất mơ hồ. Những hôm ở nhà lại không ăn cơm chung với vợ. Hoặc ăn một cách hết sức miễn cưỡng, chiếu lệ. Chê món này mặn, món kia nhạt. Chê món xào nhiều mỡ, món thịt nhiều gân, nhiều da. Người nếu ăn cho gia đình cảm thấy rất bối rối khi phải dọn bữa, và đã đôi lần phàn nàn với Trinh. Ngồi đâu thì Cao thơ thẩn, đôi mắt lờ đờ, và hay thở dài. Đặc biệt là có những lời nói hết sức tiêu cực hoặc thách thức vợ. Thí dụ, nếu bà không thích tôi nữa thì ly dị đi. Hoặc: Cô đừng tưởng là tôi không thể bỏ cô được. Cô và bà được dùng thay thế cho chữ “em” và “cưng” trước đây trong cách xưng hô của Cao với vợ. Đêm đêm trong giấc ngủ, Cao hay mơ sảng, và hốt hoảng. Khi bị vợ chất vấn là liệu có tư tưởng hay hành động ngoại tình nào không, thì anh thề là không, hoặc chỉ âm thầm bỏ đi mà không trả lời.

Trước những thái độ và lối sống bất ngờ ấy, Trinh chỉ muốn tìm hiểu xem là chồng mình có ngoại tình hay không? Bằng ấy những dấu hiệu có đủ để quả quyết là chồng đã ngoại tình, và  còn yêu mình nữa hay không? Làm sao một người như Cao lại có thể ngoại tình? Và làm sao chồng mình lại có thể bỏ mình được trong khi mình vẫn yêu chồng, và vẫn sẵn sàng tha thứ cho chồng.
 

Trường hợp 2:

Yến và chồng quen nhau trong thời gian còn ở trại tị nạn khi mới đặt chên lên đất Mã Lai. Sau khi được định cư tại Hoa Kỳ hai người đã kết hôn và sống với nhau đến nay gần 20 năm. Yến có hai người con, đứa gái đầu năm nay 15 tuổi và đứa trai út cách chị nó 10 tuổi.

Thỉnh thoảng Yến có chuyện phải về Việt Nam, khi thì lo cho cha mẹ già vì ông bà không muốn qua Mỹ, khi thì lo giúp các em út hai bên gia đình.  Lần thì về chung với chồng con, cũng có lần về một mình. Tháng trước đây, cô lại về một mình để lo cho mẹ phải vào nhà thương. Nhưng lần này cô không ngủ ở nhà mà thuê hotel để ở. Và khi mẹ cô xuất viện, thì cô đã không trở lại Hoa Kỳ ngay, nhưng đổi vé và ở lại thêm ba hôm sau mới về. Chồng cô đã hỏi về lý do đổi vé và thuê hotel để ở thì cô đổi qua chuyện khác, hoặc to tiếng ngắt lời.

Từ khi trở lại Hoa Kỳ gần tháng nay, cô thường thao thức, và giấc ngủ chập chờn. Nhiều đêm, chồng cô bắp gặp cô nói chuyện điện thoại với ai đó rất lâu khiến anh phải nhắc khéo cô là đi ngủ để mai còn thức dậy mà đi làm. Trong cách xưng hô và lối sống, cô bắt đầu có những so sánh xa gần giữa chồng cô với người này, người khác. Giữa bạn bè cô không e dè phên bình chồng cô, chê chồng cô kém xã giao, kém lãng mạn tình tứ. Ở nhà, thỉnh thoảng lại bẳn gắt với chồng một cách vô cớ. 

Liệu cô đã cắm sừng chồng cô chưa?


1. Hình thức ngoại tình:


Trước khi tìm hiểu một số dấu hiệu về ngoại tình, tưởng cũng nên biết thêm rằng hành động ngoại tình không tự nhiên, đơn thuần xảy ra ngày một, ngày hai. Đúng ra, nó đã được nuôi dưỡng âm ỷ trong tư tưởng lâu ngày trước đó. Hành động ngoại tình của một người mà ta thấy hôm nay chính là kết quả của những thao thức, chiến đấu, và mời gọi từ lâu trước đó trong tư tưởng. Như bất cứ một hành vi nhân tính nào của con người, ngoại tình phải hội đủ những lý do của suy nghĩ, phân tích, và chọn lựa trong tự do. Một hành động hoàn toàn tự do. Do đó, nếu một ai đó nói rằng tôi không biết, hay tôi bị lừa gạt để ngoại tình, để phản bội chồng hay vợ tôi thì đó chỉ là lời chạy tội ấu trĩ, một sự chối bỏ và lừa dối chính con người của họ. Trên thực tế, không ai bắt mình ngoại tình. Và dĩ nhiên, không phải chỉ ngẫu hứng, chốc lát đưa đến hành động ngoại tình. Vì ngoại tình là kết quả của tán tỉnh, của lựa chọn, của chấp nhận, và của trao đổi tình dục.



Ngoại tình bao gồm hai hình thức: Ngoại tình trong tư tưởng, và ngoại tình bằng hành động.

Kinh Thánh Mathio 5: 27- 32






Đôi khi hành động ngoại tình được cho là đáng tội, đáng trách, và đáng lên án, nhưng cái tâm ngoại tình thực ra mới đáng tội, đáng trách, và đáng nguyền rủa. Chính do ngoại tình trong tư tưởng mới nảy sinh những lén lút, những dấu đút, những quanh co, và nhiều nghi ngờ, nhiều cãi vã trong gia đình đem đến rạn nứt, đổ vỡ. Ngoại tình qua hành động chỉ là kết quả của ngoại tình trong tư tưởng.

Ngoại tình trong tư tưởng -ngoại tình thầm lén khó đoán biết và cũng khó đề phòng. Thực tế đã cho thấy có nhiều người chồng, người cha coi bộ đàng hoàng tử tế, mẫu mực nhưng bên trong đã là người ngoại tình. Hành động ngoại tình của họ phải nhiều năm sau do một tình cờ nào đó mới phát hiện. Một cách tương tự, cũng có những người vợ, người mẹ đoan trang, nết na bên ngoài, nhưng bên trong lại nuôi tư tưởng ngoại tình. Lối sống “đồng sàng dị mộng” thường xảy ra cho những người phụ nữ mà tình duyên bị ép buộc, hoặc có những khó khăn về mặt tài chánh, luật pháp, ảnh hưởng của tôn giáo, ảnh hưởng của văn hóa không cho họ thoát ra ngoài hôn nhân mà họ đang phải miễn cưỡng sống.  


2. Những  dấu hiệu ngoại tình:


Trong hai hình thức ngoại tình như vừa trình bày, điều mà một người chồng hay một người vợ muốn biết, đó là những dấu hiệu nào chứng tỏ hành động ngoại tình của vợ hay chồng mình? Một cách rõ ràng, liệu con người ấy qua những hành động mà ta nhìn thấy kia có đủ yếu tố để biết rõ hơn về sự ngoại tình trong tư tưởng trước khi hành động ngoại tình bằng hành động thực sự xảy ra?

Qua hai trường hợp nêu trên nếu bị chất vấn, chắc chắn Cao sẽ phủ  nhận -  như đã phủ nhận là đã phản bội vợ; và Yến cũng sẽ phủ nhận đã cắm sừng chồng nếu như bị hỏi tới. Nhưng những dấu hiệu thay đổi, những lời nói, và hành động của hai người cho thấy rằng họ thực sự đang nuôi những tư tưởng ngoại tình, và trong thực tế rất có thể họ đã có những hành động ngoại tình mà người vợ hay chồng họ chưa bắt được quả tang mà thôi.  Theo Heidi Muller đã phân tích. Một số những dấu hiệu cho biết về ngoại tình, gồm:

Không cần đến sự săn sóc của nhau.
Lạnh lùng, vô cảm.
Kín đáo và khó hiểu.
Dò xét, canh chừng.
Tự nhiên vồn vã và săn sóc.

- Không cần đến sự săn sóc của nhau:

Rõ ràng qua trường hợp thứ nhất, Cao đã có những hành động này. Cũng như trường hợp của Yến thái độ bất cần nhau trong đời thường đã hiện rõ nét qua những hành vi, cử chỉ, và nhất là lời nói. Cả hai đều tỏ ra bất cần, hoặc coi thường vợ và chồng mình. Không những họ không còn ân cần săn sóc, quan tâm đến vợ, đến chồng của họ, mà cả hai đều rửng rưng khi có sự quan tâm ấy từ phía vợ hay chồng của họ. Những chuyện mà họ đã làm 8 năm hay 20 năm trước đây.

- Lạnh lùng, vô cảm:

Trong đời sống hôn nhân, từ ngữ và cách thức dùng từ ngữ giữa hai vợ chồng đều có tính cách ước lệ, một qui định mà người ngoài nhiều khi không hiểu hay không biết, nhưng giữa hai người thì là biết và hiểu. Thí dụ, trong nhiều cặp vợ chồng, khi vợ chồng nói với nhau họ thường hay to tiếng. Đôi khi có những tranh cãi nhỏ, hoặc dùng những từ ngữ như bà, ông, tôi… Những từ ngữ ấy, những lối diễn tả ấy mang những tín hiệu và ý nghĩa tiêu cực nhằm đạt được chủ ý của người nói. Thí dụ, tôi tức, tôi bực bà lắm, tôi tức, tôi bực ông lắm rồi đó.  Dừng chân, dừng tay, im miệng lại đi, nếu không nổi nóng hơn nữa là lớn chuyện. Nhưng một mặt khác, nó cũng mang ý nghĩa và tín hiệu tích cực. Thí dụ, tôi không muốn gây với ông, tôi không muốn cãi vã với bà nữa. Bà làm ơn đừng chuyện ấy, ông làm ơn đừng tham gia việc ấy, giao tiếp với người ấy… Nội dung những tín hiệu ấy tiêu cực cũng như tích cực đều nhắm tới việc áp dụng những nguyên tắc:  “Yêu cho roi cho vọt”, hoặc “Sự thật mất lòng”.

Nhưng trong trường hợp ai đó đang nuôi tư tưởng, đang nghĩ đến ngoại tình thì những tín hiệu của người chồng, người vợ hầu như mang tính thụ động, tiêu cực. Đôi khi nghe mà không thèm lý tới, không quan tâm tới vì thực sự lúc này tôi đang để ý và quan tâm đến một người khác. Lúc này hành động đi sớm, về khuya, chuyện ăn gì, uống gì, chuyệc thức ngủ là chuyện của mỗi người. Không liên quan gì đến tôi, và tôi cũng không muốn người khác để ý tới.  

- Kín đáo và khó hiểu:

Dĩ nhiên, người đang nuôi tư tưởng hoặc đã có dính líu đến ngoại tình thường hành động thầm lén, che đậy, thận trọng, v à rất kín đáo.  Sự dè dặt, che đậy đôi khi được phản tỉnh qua giấc ngủ, những lời nói lỡ lời, hoặc những tiếng thở dài. Những câu nói, những hành động kín kín, hở hở khó hiểu khác hẳn với thái độ cởi mở, tự nhiên, ồn ào trước đây.

“Con mắt là cửa số linh hồn”. Vì không muốn cho chồng hay vợ nhìn thẳng vào linh hồn mình để khám phá ra hình bóng người thứ ba trong đó, người ngoại tình bắt đầu tránh né không nhìn thẳng vào mặt chồng hoặc vợ. Họ cũng tỏ ra rất ngại không thích ra đường hay xuất hiện nơi công cộng chung với chồng hoặc vợ. Có lẽ vì sợ vô tình người khác biết và tiết lộ với vợ hoặc chồng về hành động ngoại tình của mình. 

Trong trường hợp của Cao và Yến, nếu hai người này tránh né không muốn nhìn thẳng mặt nhau, không muốn mặt đối mặt giải quyết những thắc mắc, trả lời những câu hỏi của nhau cũng là điều dễ hiểu, vì những thao thức hiện nay của hai người đang ẩn chứa một bóng hình thứ ba. 


- Dò xét, canh chừng:

Tuy không quan tâm đến nhau, không lo lắng cho nhau, nhưng cả hai đều tăng cường sự dò xét, và canh chừng nhau. Thí dụ, lục xét áo quần, giầy dép, theo dõi điện thoại, điện thư, email, hay internet. Dò hỏi nơi bạn bè, người thân. Hoặc dùng những lời nói hai nghĩa, úp mở nhằm khai thác chồng hoặc vợ.

Riêng đối với người có tư tưởng hay hành động ngoại tình, thái độ dè dặt của họ phản ảnh tâm lý “có tật giật mình”. Họ thường có những thái độ sợ hãi, hốt hoảng, những lời nói lỡ lời; hoặc cũng có khi tỏ ra lỳ lợm, gian dối để tránh né hoặc chối tội. Khi bị chất vấn hay hạch hỏi, họ thường áp dụng nguyên tắc “chối”. Chối cho đến khi không thể chối được thì đổ tội cho một nguyên nhân nào đó.  

- Tự nhiên vồn vã và săn sóc:

Trong một số trường hợp, nhất là sau khi xảy ra hành động ngoại tình, người ngoại tình thường hay che dấu tội mình bằng cách dùng những lời nói dỗ ngọt, những cử chỉ vuốt ve, quan tâm đến chồng hoặc vợ. Thí dụ, mua tặng vợ hay chồng những tặng vật đắt tiền. Gọi điện thoại, gửi email, tặng hoa… Ta gọi đây như một chiêu thức “dương đông, kích tây”, với mục đích đừng để chồng hay vợ mình lo lắng, dò hỏi, điều tra.

Nhưng nếu người chồng hay người vợ tỉnh ý, sẽ nhận ra những cử chỉ thân thương, những món quà đắt tiền, những lời nói âu yếm ấy phảng phất một cái gì đó thiếu thật thà, gian dối. Để biết những lời nói, cử chỉ và hành động đó thật hay không thật, ta chỉ cần so sánh cũng một lời nói, cử chỉ, và hành động ấy trong quá khứ được nói, được diễn tả như thế nào với sự thay đổi bất thường hiện nay.

Tóm lại, nếu tự nhiên gần đây chồng hoặc vợ mình bắt đầu thay đổi kiểu tóc, thay đổi cách ăn mặc, thay đổi điện thoại, thay đổi password, thay đổi nước hoa. Hoặc chính ta bỗng một hôm nào đó ngửi thấy một mùi nước hoa lạ trên đầu, tóc, trên áo chồng hoặc vợ, vô tình thấy một dấu son trên cổ áo của chồng, một vết cắn bầm tím trên cổ của vợ, một sợi tóc lạ trên áo, trên người của chồng hay vợ.

Thêm vào đó, là những lời nói gay gắt, gây sự, thách thức. Những thái độ chê bai, so sánh với người này, người khác. Thay đổi cách thức ăn uống, chê bai đồ ăn, thức uống. Những thái độ lơ là trong việc ân ái vợ chồng. Những lần đi sớm về khuya. Những thay đổi về giờ giấc, về chương trình làm việc. Và cộng thêm tâm lý bần thần, hờ hững, buông xuôi… thì đó là những dấu hiệu mà ta cần thẳng thắn đối diện và quan tâm trước khi tư tưởng ngoại tình ăn sâu, thôi thúc để dẫn đến hành động nơi người chồng hay người vợ.

Một kinh nghiệm trong đời sống hôn nhân gia đình, đó là khi người chồng ngoại tình thì người vợ nếu khôn ngoan, bình tĩnh và biết ứng xử có thể hoán cải, đưa người chồng trở về được. Nhưng khi người vợ đã ngoại tình thì trường hợp hoán cải rất hiếm, mặc dù con đường trước mặt là mất mát và nước mắt.  







Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email: luaphucamhp@yahoo.com


Trang Hoithanhkienbai Blog: Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..


SỨC KHỎE- ÐỜI SỐNG

Xem tất cả Sức khoẻ đời sống »

SẮC ÐẸP

Xem tất cả Sắc đẹp »

GIA CHÁNH

Xem tất cả Gia chánh »

MẸ & BÉ

Xem tất cả Mẹ và bé »