Bài đăng mới:

CHƯƠNG TRÌNH HY VỌNG
Chương Trình Thứ Tư, ngày 10/12/2014



Đề Tài: Làm Gì Để Được Cứu - Rôma 10:3-10

HT Kiền Bái- Bài Viết Mới

Phim cơ đốc mới nhất

Những áng thơ ca mới nhất


Câu Kinh Thánh cho ngày hôm nay:
Chào mừng quý vị đến với Hoithanhkienbai's Blog. Xem tốt nhất ở Google Chrome. Nếu quý vị không xem hoặc không nghe được, xin vui lòng ấn phím F5. Và BQT không chấp nhận những Comments [Nhận xét] ẩn danh.

Hình pháp không nghiêm

Bài viết mới nhất :
Bạn là TÁC GIẢ:
Thành Viên của chúng tôi:

Khiêm nhường là gì?


1. Hiểu lầm sự khiêm nhường- John Bevere :


Thật buồn để nói, khiêm nhường thường bị hiểu sai là hèn nhát, nhu nhược hay bạc nhược. Thật ra, nó hoàn toàn trái ngược. Và trong Kinh Thánh, những ai thật khiêm nhường thường bị cho là kiêu ngạo hay ngạo mạn. Lấy Đavít làm ví dụ. Theo lời yêu cầu của cha cậu, Đavít đi thăm các anh cậu đang tham chiến chống lại đạo quân người Philitin. Khi cậu đến chiến địa, cậu thấy tất cả người lính kể cả các anh cậu, đang ở trong tư thế chiến đấu lạ đời: trốn sau hốc đá và run rẩy sợ hãi, Họ run sợ bởi tên khổng lồ người Philitin to lớn, mạnh mẽ và tiếng tăm. Đavít nhận ra rằng chuyện này đã diễn biến bốn mươi ngày nay, và cậu hỏi với giọng điệu người lớn, “Tên Philitin không cắt bì kia là ai mà dám sỉ nhục đạo quân của Đức Chúa Trời Hằng Sống ?” (1Sa 17:26).

Thái độ của Đavít làm cho người anh cả của cậu là Ê-li-áp nổi khùng. Bạn nghĩ Ê-li-áp nghĩ gì không ? Cậu em của tôi không phải là con nhà nòi, nó quá kiêu ngạo. Người anh cậu đáp trả lại Đavít, “Tao biết tánh kiêu ngạo và sự độc ác của lòng mầy” (c.28- BTT). Chà, một lời quở trách thẳng thừng! Bản Dịch Mới dịch, “Tao biết mầy xấc láo, ương ngạnh.”

Nhưng khoan đã! Ai mới thật là người kiêu ngạo? Mới ở chương trước, tiên tri Samuên đến nhà của ông Giê-se xức dầu cho vị vua sắp tới. Ê-li-áp người anh cả đã không cắt ngang. Cả Giê-se lẫn Samuên đều cho rằng Ê-li-áp sẽ được Chúa chọn vì anh ta là anh cả và là người con cao to nhất và khoẻ mạnh nhất của Giê-se. Nhưng Chúa nhất mực phán, “Ta đã từ bỏ nó” (1Sa 16:7).

Sau này Chúa khen sự khiêm nhường của Đavít bằng cách tuyên bố Đavít là người có tấm lòng của Ngài (xem Công vụ 13:22). Sự khiêm nhường là một đặc điểm trong đời sống Đavít, và chúng ta thảy đều biết rằng vị lãnh đạo vĩ đại này không phải là yếu đuối, nhu nhược hay hèn nhát đâu. Ông là người đã viết, “CHÚA ở cùng tôi, tôi sẽ không sợ. Người phàm sẽ làm chi tôi?” (Thi 118:16).

Tôi tin kẻ thù đã làm việc cật lực để ngăn cản chúng ta định nghĩa và hiểu biết sự khiêm nhường. Nhiều tín đồ yêu Chúa đã hòa cùng người thế gian vô tín xem khiêm nhường là ăn nói nhỏ nhẹ, là thái độ nhút nhát và không nên đối đầu. Nhưng định nghĩa này rất xa, xa với ý nghĩa thật của từ khiêm nhường . Hãy xem hai ví dụ nữa của Kinh Thánh : Môise và Chúa Giê-su. Chúng ta đọc trong sách Dân số, “Môi-se là một người rất khiêm tốn, khiêm tốn nhất trần gian” (Dân 12:3).

Thật là một câu nói rất hay! Bạn và tôi có thích mình cũng được Chúa nói vậy không ? Dĩ nhiên, chúng ta không bao giờ dám nói về bản thân vì chỉ có những con người ngạo mạn, kiêu ngạo, khoe khoang, khoe cái tôi mới nói cho mọi người rằng người ấy khiêm nhường thế nào, phải vậy không ? Nhưng hãy đoán ai viết sách Dân số – Môise! Con người lạ lùng này của Chúa đã mô tả bản thân ông là người khiêm nhường nhất trần gian.

Sao lại có chuyện này ? Bạn nghĩ có một mục sư đứng trước hội thánh và tuyên bố, “Thưa quý vị, tôi rất khiêm nhường, nên để tôi nói cho quý vị hay về điều này.” Có lẽ mọi người sẽ cười ông mục sư này.

Bây giờ hãy nghe lời Chúa Giê-su phán : “Hãy đến cùng Ta. Ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ… học theo Ta… vì Ta có lòng dịu hiền và khiêm tốn (Mat 11:28-29).

Thật ra, Chúa Giêsu có ý nói, “Nào, hãy đến cùng Ta. Ta khiêm nhường và Ta muốn dạy các con về sự khiêm nhường.” Giống như lời Môi se nói, sự khiêm nhường mà Chúa Giêsu tự tuyên bố không “hợp thời” trong thế giới ngày nay. Nhưng vấn đề không phải là những gì mà Môise và Chúa Giê-su nói; vấn đề là chúng ta đã hiểu biết lệch lạc về sự khiêm nhường. Chúng ta đánh mất ý nghĩa thật của từ này vì ngày nay chúng ta nghĩ khiêm nhường là sống như ‘giòi bọ” và nói đến việc bất lực và tình trạng khốn nạn của chúng ta. Trong khi đó, khiêm nhường như Chúa định nghĩa thì phẩm chất rât tích cực, đầy quyền năng. Khiêm nhường thật là vâng lời tuyệt đối và lệ thuộc nơi Chúa. Nó đặt Chúa trước hết, những thứ khác thứ hai và bản thân thứ ba trong mọi lĩnh vực. Khiêm nhường không liên hệ gì đến việc ăn nói nhỏ nhẹ và cảm thấy thấp bé nhưng nó liên hệ rất nhiều đến việc sống can đảm, không nao sờn trong quyền năng của ân điển miễn phí của Chúa.

Hãy nhớ những người chịu đựng cách can trường và kết thúc tốt đẹp sẽ nhận phần thưởng như thế nào? Phaolô cảnh báo đừng để khiêm nhường giả tạo – mà có vẻ là khôn ngoan – lừa dối anh em đánh mất phần thưởng. Ông cảnh báo, “Đừng để bị lừa mà mất phần thưởng bởi những kẻ cố làm bộ khiêm nhường” (Cô 2:18). Mười thám tử và dân Y-sơ-ra-ên nhút nhát là một ví dụ cho thấy khiêm nhường già tạo thật sự khiến chúng ta đánh mất phần thưởng mà Chúa định ban cho.

Đó là chỗ nhiều tín đồ đánh mất định mệnh của họ do khiêm nhường giả tạo. Calép và Giôsuê, hai thám tử mà đã báo cáo trong tin thần khiêm nhường, là hai người duy nhất thuộc thế hệ đó được Chúa cho phép bước vào xứ hứa. Với Giôsuê là lãnh đạo, thế hệ mới của dân Y-sơ-ra-ên bước vào xứ cách can đảm, khiêm nhường trong năng quyền của cánh tay Chúa. Và họ đã chiến thắng.

Chúng ta thảy đều được kêu gọi để trở thành nhà lãnh đạo và người gây ảnh hưởng. Bạn lãnh đạo như thế nào ? Bạn có trang bị bằng sự khiêm nhường phục dưới cánh tay quyền năng của Chúa hay bạn làm ra vẻ khiêm nhường nhưng vẫn còn làm việc bởi sức riêng?

Mọi người trong thế hệ Calép và Giôsuê đều ở vị trí chiến thắng. Êliáp và các em của anh ta đáng lý chiến thắng dân Philitin trước khi người thanh niên Đavít xuất trận.

Tôi rất vui là bạn để thì giờ học biết ý nghĩa của việc trang bị chính mình bằng sự khiêm nhường. Nhưng hãy dừng lại đây. Hãy tra cứu Kinh Thánh và xin Thánh Linh soi sáng cho bạn. Đừng bị che mắt và đánh bại trong cuộc sống vì thiếu hiểu biết. Bạn được định để kết thúc tốt đẹp. Hãy nghe lời hứa của Chúa: Những người nhu mì cũng sẽ được thêm sự vui vẻ trong Đức Giê-hô-va. (Êsai 29:19 – BTT).

Thật là một lời hứa tuyệt vời! Chúng ta thảy đều thích vui mừng. Nhưng tại sao đây là một lời hứa quan trọng ? Vì “Vì sự vui mừng của Chúa là sức mạnh của bạn” (Nê 8:10). Sức mạnh để kết thúc tốt đẹp. Chúng ta không thể chạy can trường cuộc đua và hoàn tất cuộc đua mà không có sự vui mừng. Chúa hứa rằng bạn và tôi sẽ thêm lên vui mừng hay sức mạnh nếu chúng ta cứ mặc lấy sự khiêm nhường.

2. Mục sư Trần Ngọc Khánh nói về sự Khiêm nhường:

Mục sự Trần Ngọc Khánh nói về sự KHIÊM NHƯỜNG như sau:

Khiêm nhường là viên ngọc sáng chói của các đức tính. Khiêm nhường không phải là tự hạ thấp mình xuống, hay tự đánh giá thấp về mình, mà là trung thực với chính mình và trung thực với những người chung quanh. Người khiêm nhường nhận biết những ưu và khuyết điểm mình có, và cũng nhận biết giá trị của người khác, qua đó bày tỏ sự tôn trọng với những người chung quanh. Người khiêm nhường không “bận rộn” về mình với những câu “Tôi không ra gì cả, tôi không có tài cán gì, tôi không là gì cả, tôi không…tôi không”, mới nghe qua chúng ta tưởng chừng như đây là người khiêm nhường, nhưng thật ra đây là người kiêu ngạo ngầm, như tôi đã nói “kiêu ngạo trong cái khiêm nhường”, bởi vì khi người nào đó luôn miệng cho mình không là gì cả, thì người đó muốn được người khác chú ý đến “cái khiêm nhường” của mình.

Có những người tài giỏi, học thức cao, bằng cấp đầy mình, nhưng khi được đề cử làm việc nầy hay việc nọ, thì từ chối, cho mình là “tài hèn đức mọn” để thoái thoát công việc, có phải đây là người khiêm nhường không? xin thưa đây là những người nhu nhược. Khiêm nhường không liên quan gì đến giàu hay nghèo, vì có khi người giàu thì khiêm nhường, còn người nghèo lại kiêu ngạo. Khiêm nhường không liên quan gì đến kiến thức, vì có khi người học thức cao thì khiêm nhường, còn người biết ba mớ kiến thức lại kiêu ngạo. Khiêm nhường cũng không liên quan gì đến địa vị trong xã hội, vì có khi người địa vị cao thì khiêm nhường, còn người ở địa vị thấp lại kiêu ngạo. Càng thành công bao nhiêu hãy khiêm nhường bấy nhiêu, bởi vì chúng ta thấy, những bông lúa càng nặng hạt thì càng “cúi rạp” xuống, còn những bông lúa lép, thì thường “ngẫng cao”. Những nhánh cây nào có trái nhiều thì chắc chắn bị “oằn xuống” thấp, còn những nhánh nào trái ít hay không có trái thì có bị oằn xuống đâu. Lão Tử có nói “Ðể mình ra sau, mình lại đứng trước. Bỏ mình ra ngoài, mình lại vẫn còn”.

Người khiêm nhường là người thật có tài, nhưng lúc nào cũng cảm nhận mình chỉ là một người giữa mọi người, nên có thể hòa mình với mọi người dầu không đồng. Người khiêm nhường không cố vị, vì quyền lợi chung mà sẵn sàng bước xuống để nhường cho người khác bước lên. Sự khiêm nhường tự nó nâng cao giá trị của người đó, sự khiêm nhường còn tượng trưng cho sự đúng đắn, biết sống theo thời và biết nhìn xa. Ðừng cố làm ra vẻ khiêm nhường, khó lắm, mà hãy tự nhiên, hãy để người khác thấy và người khác đánh giá. Người khiêm nhường không tiếc lời khen nhưng thận trọng khi phê phán, tránh dùng những ngôn từ làm tổn thương người khác, vì người khiêm nhường phải có tình yêu thương, vì khiêm nhường và yêu thương phải đi song song như hai đường rầy xe lửa vậy. Người khiêm nhường khi được góp ý hay phê phán cần bình tĩnh, nhẫn nại, lắng nghe và tiếp nhận những điều hợp lý, nếu lời góp ý hay phê phán đó đúng, người khiêm nhường chấp nhận và cố gắng sửa đổi, nhưng nếu những lời góp ý hay phê phán đó có ý chỉ trích thì bỏ qua một bên, đừng bận tâm những lời đó, vì còn biết bao việc phải làm. Người khiêm nhường thường không thỏa mãn kiến thức, cho mình còn kém và luôn học hỏi, học mãi. Người khiêm nhường rất dễ cho mọi người gần gũi và cộng tác.

Khiêm nhường là học theo bản tính của Chúa Cứu Thế, “Ngài vốn có bản tính Ðức Chúa Trời, nhưng không coi sự bình đẳng với Ðức Chúa Trời là điều phải nắm giữ, chính Ngài đã từ bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ, trở nên giống như loài người” (Philíp 2:6-7). Và “Ðức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (Giacơ 4:6). Bạn có muốn được Ðức Chúa Trời ban ơn không?

3. Suy ngẫm:

Chữ “ Khiêm Nhường” trong tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa là “giản dị ” hay “ thận trọng”.  Đây là thái độ ngược lại với sự kiêu ngạo. Đây là thái độ chính xác về con người thật của mình.

Khiêm nhường không có nghĩa “ Tôi là con số không, tôi là con người vô dụng”.  Đó là tự kỷ ám thị, đó không phải là khiêm nhường.

1 Phi-e-rơ  5:5–6  “ Cũng khuyên bọn trẻ tuổi, hãy phục theo các trưởng lão. Hết thảy đối đãi với nhau phải trang sức bằng khiêm nhường; vì Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, mà ban ơn cho kẻ khiêm nhường.  Vậy, hãy hạ mình xuống dưới tay quyền phép của Đức Chúa Trời, hầu cho đến kỳ thuận hiệp Ngài nhắc anh em lên"

Hình như trong thế giới tiến bộ kỹ thuật vượt bậc này, hai chữ khiêm nhường không còn chỗ đứng.  Vào trong tiệm sách, chúng ta không thấy bày bán quyển sách nào nói về sự Khiêm Nhường. 
Lý do chính là Sự Khiêm Nhường chỉ có thể đứng vững trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Khi không có Chúa, con người sẽ không có sự khiêm nhường.

BỐN LÝ DO KHIÊM NHƯỜNG 

Phi-e-rơ nêu 4 lý do Khiêm Nhường  .

Câu  5b: " Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo
Câu 5b: " ban ơn cho kẻ khiêm nhường " 
Câu 6 : hạ mình xuống dưới tay quyền phép của Đức Chúa Trời
Câu 7 :  lại hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em. "

NĂM LÝ DO CHÚA GHÉT KẺ KIÊU NGẠO

1. Kiêu ngạo là tự thỏa mãn mà quên Chúa - Ô-sê 13:6 
“  Chúng nó đã được no nê theo đồng cỏ; và được no nê rồi, thì chúng nó sanh lòng kiêu ngạo; vậy nên chúng nó đã quên ta.

2. Kiêu ngạo là Tự cao và tự phụ mà bội ơn Chúa
Môi-se cảnh cáo trong Phuc Truyền 8:12–14  sau khi đã ăn no nê, cất nhà tốt đặng ở, 13 thấy bò chiên của mình thêm nhiều lên, bạc, vàng, và mọi tài sản mình dư dật rồi, 14 thì bấy giờ lòng ngươi tự cao, quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, là Đấng đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức khỏi nhà nô lệ chăng. 17 Vậy, khá coi chừng, chớ nói trong lòng rằng: Ấy nhờ quyền năng ta và sức lực của tay ta mà đoạt được những sản nghiệp nầy.

3. Kiêu mạo nhận thành quả do mình thay vì từ Chúa.
Tấm gương của vua Ba-by-lôn Nê-bu-cát-nết-sa
Đa-ni-ên 4:30-32 : Vua Nê-bu-cát-nết-sa nói : "Đây chẳng phải là Ba-by-lôn lớn mà ta đã dựng, bởi quyền cao cả ta, để làm đế đô ta, và làm sự vinh hiển oai nghi của ta sao? 31 Lời chưa ra khỏi miệng vua, thì có tiếng từ trên trời xuống rằng: Hỡi vua Nê-bu-cát-nết-sa, đã báo cho ngươi biết rằng: Ngôi nước đã lìa khỏi ngươi. 32 Ngươi sẽ bị đuổi khỏi giữa loài người, sẽ ở với thú đồng; sẽ bị buộc phải ăn cỏ như bò, rồi bảy kỳ sẽ trải qua trên ngươi, cho đến khi ngươi nhận biết rằng Đấng Rất Cao cai trị trong nước của loài người, và Ngài muốn ban cho ai tùy ý. 33 Trong chính giờ đó, lời nói ấy đã ứng nghiệm cho vua Nê-bu-cát-nết-sa, vua bị đuổi khỏi giữa loài người; ăn cỏ như bò; thân thể vua phải thấm nhuần sương móc trên trời, cho đến tóc vua cũng mọc như lông chim ưng, móng vua thì giống như móng loài chim chóc.

4. Kiêu ngạo phủ nhận sự Vinh hiển của Đức Chúa Trời
“ Đến kỳ, vua Hê-rốt mặc áo chầu, ngồi trên ngai, truyền phán giữa công chúng. 22 Dân chúng kêu lên rằng: Ấy là tiếng của một thần, chẳng phải tiếng người ta đâu! 23 Liền lúc đó, có thiên sứ của Chúa đánh vua Hê-rốt, bởi cớ chẳng nhường sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời; và vua bị trùng đục mà chết. Công vụ 12:21-23 ; 

5. Kiêu ngạo chống lại sự hiện hữu của Đức Chúa Trời
Thi thiên 10 :4 :  “Kẻ ác bộ mặt kiêu ngạo mà rằng: Ngài sẽ không hề hạch hỏi. Chẳng có Đức Chúa Trời: kìa là tư tưởng của hắn.


Qua bài viết này, hy vọng bạn và tôi hiểu đúng lẽ thật về sự kiêu ngạo và khiêm nhường hầu cho đời sống mình được phước hạnh trong Chúa.






Bài viết mới nhất :
Bạn là TÁC GIẢ:
Thành Viên của chúng tôi:

Sự cám dỗ lấn lướt

Bài viết mới nhất :
Bạn là TÁC GIẢ:
Thành Viên của chúng tôi:

Người Việt Nam với Khái Niệm về "Ông Trời"


Chương 1

Người Việt Nam với Khái Niệm về "Ông Trời"

Từ lâu người Việt Nam đã biết có Ông Trời, tin Ông Trời và cầu khẩn Ông Trời. Niềm tin nầy vốn có trong tiềm thức của người dân Việt ngay cả trước khi có các tôn giáo khác du nhập vào nước ta. Niềm tin nầy thể hiện qua ngôn ngữ và qua nếp sống của chúng ta.

Kêu Trời
Ðiều dễ hiểu nhất và không ai phủ nhận được là hễ gặp bất cứ việc gì bất chợt xảy đến, dù vui hay buồn, dù tốt hay xấu, câu nói buột miệng của người Việt Nam trước hết là kêu: "Trời ơi!" giống như người Mỹ kêu: "Oh my God!"
Khi rủi ro đứt tay, vấp chân, té ngả, người ta kêu Trời. Khi gặp buồn khổ, chán nản, chết chóc, thất bại, người ta kêu Trời. Khi thành công, hạnh phúc, bình an, người ta nói Nhờ Trời. Khi gặp tai nạn người ta kêu Trời cứu, cầu Trời cho tai qua nạn khỏi...

Kính Trời
Tuy không biết rõ Ông Trời là Ðấng như thế nào, nhưng người Việt Nam ai cũng kính Trời vì hiểu rằng có ta đây là vì có Ông Trời. Trong ngôn ngữ bình dân, dù là câu nói vui đùa, mỗi khi xưng hô nhắc đến Trời thì người ta không dám nói thiếu chữ Ông đi trước chữ Trời. Người ta gọi Ông Trời với lòng tôn kính. Người Tin Lành tôn thờ Ngài nên gọi Ngài là Ðức Chúa Trời.

Một cô gái quê vui đùa hỏi bí bạn trai:
Thấy anh hay chữ
Em hỏi thử đôi lời
Thuở tạo thiên lập địa
Ông Trời tròn ai xây?

Cầu Trời
Người Việt phần lớn sống bằng nông nghiệp, biết rằng mùa màng được hay mất cũng do Trời.
"Nhờ Trời năm nay được mùa!"
Người nông dân lúc nào cũng tâm nguyện cầu Trời cho cơm no áo ấm:
Lạy Trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy đầy bát cơm...

Hoặc họ truyền tụng về ơn Trời bằng những câu ca dao, bài hát bình dân:
Nhờ Trời mưa thuận gió hòa
Nào cày nào cấy trẻ già đua nhau.

Lạy Trời mưa thuận gió đều
Cho đồng lúa tốt, cho chiều lòng em.

Người Việt thường tôn trọng chữ hiếu và mong cho cha mẹ sống lâu, gia đình được phước. Vì thế họ lập bàn thờ Thiên để thờ Trời ngay trước cửa nhà. Người con có hiếu từng đêm đến trước bàn thờ cầu khẩn:
Mỗi đêm mỗi thắp đèn Trời
Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

Tin Trời
Trải bao đời, người Việt tin Ông Trời là Ðấng Tạo Hóa, tạo thiên lập địa, Ðấng cầm quyền sống chết, làm chủ vận mệnh muôn loài, quyền phép vô cùng. Người Việt Nam quen thuộc với những khái niệm:
Thiên sinh vạn vật, duy nhân tối linh.
Ðại phú do Thiên, tiểu phú do cần.
Trời sinh voi sinh cỏ.
Trời cho ai nấy hưởng.
Trời kêu ai nấy dạ.
Sống nhờ ơn Trời, chết về chầu Trời.

Cũng có câu: "Trời cho không ai thấy, Trời lấy không ai hay."

Người Việt công nhận và tin tưởng Ông Trời cầm quyền thành bại trong cuộc sống của loài người:
Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên.

Người Việt tin Trời là Ðấng công bình, cầm quyền họa phúc, vì vậy đã thường nhắn nhủ với nhau:
Ở hiền thì lại gặp lành
Những người nhân đức Trời dành phúc cho.

Người Việt cũng tin tưởng "Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân," nghĩa là Trời không phụ bạc người có lòng tốt bao giờ.

Trong hôn nhân lứa đôi, người Việt tin tưởng hạnh phúc vợ chồng do Ông Trời sắp đặt:
Duyên ba sinh Trời đã sẵn dành.

Khi thấy số phận không may hoặc tình duyên dang dở người ta thường ngửa mặt lên trời than thở, dường như muốn nói với Ðấng Hóa Công hết nỗi lòng mình:
Chữ bạc mệnh ai ơi thấu với
Câu đa đoan Trời hỡi thấu chăng?
(trong Tự Tình Khúc của Cao Bá Nhạ).

Trong Cung Oán Ngâm Khúc cũng có câu:
Quyền họa phúc Trời giành mất cả
Chút tiện nghi chẳng trả phần ai.

Thi hào Nguyễn Du đã khuyên trong Truyện Kiều:
Ðã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa
Thiện căn tự bởi lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

Kết luận Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết:
Ngẫm hay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Nhờ Trời
Lịch sử Việt Nam có ghi chép chuyện về Danh Tướng Lý Thường Kiệt, trong lúc kháng cự quân Tống xâm lăng, đã làm 4 câu thơ và loan truyền là do Thần Linh báo mộng ban cho để khích lệ tinh thần binh sĩ yên tâm đánh giặc:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Học giả Hoàng Xuân Hãn đã dịch như sau:
Sông núi nước Nam vua Nam coi
Rành rành một phận ở sách Trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Bây sẽ tan tành, chết sạch toi.

Ðây là cách áp dụng chiến tranh tâm lý, mượn oai Trời. Kết quả là quân lính nức lòng đánh giặc, quân Tống không tiến được đành giảng hòa. Rõ ràng câu chuyện nầy nói lên niềm tin mãnh liệt của dân tộc Việt nơi sự tể trị của Ông Trời, trong đó mọi vận mệnh nhân dân đất nước do Trời định đoạt.
Nước non là nước non Trời
Ai chia được nước ai dời được non.

Thờ Trời
Trải qua nhiều thế kỷ, ngay cả sau khi có các triết lý tôn giáo của Khổng Giáo, Lão Giáo và Phật Giáo truyền đến, người dân Việt vẫn lấy tín ngưỡng thờ Trời làm nền tảng để giữ gìn truyền thống dân tộc, gia đình. Cả ba tôn giáo chính nói trên đã góp phần củng cố thêm cho niềm tin hợp với Ðạo Trời. Ngay cả Phật Giáo với khái niệm mờ nhạt về Ông Trời khi đến Việt Nam cũng phải chấp nhận ý niệm "Cầu Trời Khẩn Phật".
Hợp lẽ Trời, thuận lòng người là đạo lý của người Việt Nam. Dù thực hành tín ngưỡng nào, người Việt ai nấy cũng công nhận: "Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong" nghĩa là thuận với Trời thì còn, nghịch với Trời thì mất.
Chính vì đó mà người dân Việt thờ Trời. Ngay từ thời các Vua Hùng dựng nước, người ta đã biết thờ Trời. Mỗi năm nhà Vua thay mặt nhân dân lập đàn Tế Trời, Cầu Trời cho dân chúng an cư lập nghiệp. Trong gia đình, người cha thay mặt để cầu Trời phù hộ cho gia đình, con cháu hạnh phúc. Các triết lý du nhập vào từ Trung Quốc hoặc Ấn độ đã không đồng hóa hoàn toàn tín ngưỡng của người dân Việt. Trái lại những tín ngưỡng nào phù hợp với tình cảm thiêng liêng trong sáng của người dân Việt thì được tiếp thu với tinh thần chọn lọc, phê phán.
Chịu ảnh hưởng của đạo đức Lão Trang, người Việt thường bảo nhau về cách ăn ở cho phải đạo, nhất là đạo làm con, đạo vợ chồng:
Ðạo làm con chớ hững hờ
Phải đem hiếu kính mà thờ mẹ cha.

Cây xanh thì lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.

Người trồng cây hạnh người chơi
Ta trồng cây đức để đời mai sau.

Người Việt Nam cũng tiếp thu truyền thống giữ gìn "luân thường đạo lý" của Khổng Giáo thật nhuần nhuyễn và bình dị như cuộc sống gần gũi lễ phép thân thương kính trên nhường dưới trong gia đình. Luân là cái mà con người phải noi theo trong mối tương quan xã hội. Thường là sự việc không biến đổi theo không gian và thời gian mà con người phải giữ. Trong Ngũ luân với quan hệ quân thần, phụ tử, phu thê, huynh đệ, bằng hữu, người Việt trân trọng những đức tính Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa. Trong Ngũ thường, người Việt trân trọng giữ gìn nhân, nghĩa, lễ, trí, tín theo đạo lý làm người.
Anh làm trai học đạo thánh hiền
Năm hằng chẳng trễ, ba giềng chớ sai.

Chữ hiếu được mọi người đặt lên hàng đầu:
Nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên
Chữ rằng mộc bổn thủy nguyên
Làm người phải biết tổ tiên ông bà.

Bổn phận hiếu đễ được minh giải thêm:
Thờ cha mẹ ở hết lòng
Ấy là chữ hiếu ở trong luân thường
Chữ đễ có nghĩa là nhường
Nhường anh, nhường chị, lại nhường người trên
Ghi lòng tạc dạ chớ quên
Con em phải giữ lấy nền con em.

Trong tinh thần phê phán chọn lọc, người Việt đã phân biệt chân giả, đúng sai trong từng tín ngưỡng thực hành. Chẳng hạn:
Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ cha kính mẹ mới là chân tu.

Hoặc ai nấy đều đồng ý:
Dẫu xây chín bậc phù đồ
Không bằng làm phước cứu cho một người.

Người Việt Nam phần lớn không tin ở thuyết luân hồi. Bằng cớ là nhiều người Việt thờ cúng ông bà, tin rằng vong linh ông bà vẫn còn đó. Mỗi năm nhân dịp Tết cổ truyền, người ta rước ông bà về vui xuân với con cháu rồi tiễn ông bà đi. Nếu tin ở thuyết luân hồi thì phải tin ông bà cha mẹ đã hóa kiếp thành người ngoại quốc nào khác, hoặc con thú nào đó trong rừng, hoặc một con vật nào đó trong bầy gia súc trong vườn. Tin như thế, người ta sẽ không rước tiễn ông bà, cũng không dám ăn thịt , đánh đập hoặc giết chết một con vật nào. Người Việt Nam tin ở giá trị thiêng liêng bất tử của linh hồn, tin ở đời sau. Linh hồn của mọi người chết là về chầu Trời.
Người Việt Nam là dân tộc hiền hòa nhưng bất khuất. Lúc có cần ai nấy đều có thể chịu đựng hy sinh vì nghĩa lớn. Trong quan hệ bình thường, người Việt áp dụng tinh thần dĩ hòa vi quí. Trong cuộc sống với nhiều điều không lý giải được, người Việt vẫn tin tưởng ở mệnh Trời, hy vọng một ngày mai tươi sáng hơn.
Không ai giàu ba họ
Không ai khó ba đời.

Còn trời còn đất còn non nước
Có lẽ ta đâu mãi thế nầy?

Người Việt tin tưởng và yêu chuộng những nguyên tắc như:
Ở hiền gặp lành,
Ông Trời có con mắt,
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo,
Lưới Trời lồng lộng, thưa mà không lọt,
Thiên bất dung gian.

Người Việt quí trọng và ao ước những giá trị Trời ban như thiên ân, thiên tài, thiên bẩm, thiên chức, thiên hương, thiên tướng, thiên tư. Người Việt giữ gìn truyền thống tương thân tương trợ những khi tối lửa tắt đèn.
"Bà con xa không bằng láng giềng gần."

Câu tục ngữ "Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng," đã được đem ra áp dụng thường xuyên trong những lúc hoạn nạn, tai ương với nhiều kết quả tốt đẹp.
Trong quan hệ giữa người với người, người Việt luôn luôn giữ lấy chữ tình:
Phàm sự lưu nhân tình
Hậu lai hão tương kiến.
Chính nhờ đó mà dân Việt Nam muôn đời vẫn còn tồn tại.

Người Việt hiểu biết về "Ông Trời" chưa đầy đủ
Giống như nhiều dân tộc khác trên thế giới, sự nhận biết về Ðức Chúa Trời có thể nói là một thứ nguyên tri tự nhiên mà Ông Trời ban cho nhân loại. Dân tộc nào cũng có chữ Ông Trời hay Ðấng Tạo Hoá trong ngôn ngữ mẹ đẻ của mình.
Thật vậy, khi nhìn xem vạn vật, thiên nhiên, với cảnh trí đẹp đẽ tuyệt vời, với không gian bao la vô tận, với sự cấu tạo tinh vi, diệu kỳ, muôn hình vạn trạng, với qui luật bốn mùa xuân hạ thu đông trật tự chính xác vô cùng, với bản năng lạ lùng bất biến của các loài vật... rồi nhìn lại con người với thân thể kỳ diệu, với mầu nhiệm sinh sản, với tình cảm thiêng liêng, với những giá trị tinh thần, với những kinh nghiệm về qui luật đạo đức trải qua các đời, với ý chí tự do lựa chọn... cùng với bao nhiêu chứng cớ khác nữa trong cuộc sống, người ta phải thừa nhận có Ðấng Tạo Hóa, có Ông Trời. Chính Ông Trời đã tạo dựng nên tất cả, Ngài đang điều khiển, bảo tồn tất cả những qui luật thiên nhiên và đạo đức trên thế giới nầy.
Nhưng thiên nhiên chưa đủ để con người biết rõ về thuộc tánh, ý muốn và chương trình vĩnh cửu của Ðức Chúa Trời. Bởi trong thực tế khi nhìn thiên nhiên có người suy luận hữu thần, có người suy luận phiếm thần, hoặc có người suy luận đa thần, thậm chí cũng có người suy luận vô thần. Thiên nhiên chưa đủ để người ta biết rõ Ðức Chúa Trời thực hữu độc lập với các tạo vật do Ngài dựng nên và Ngài là Chân Thần Duy Nhất.
Người Việt biết có Ông Trời nhưng chưa biết Ðức Chúa Trời là Chân Thần, là Ðấng Tạo Hoá duy nhất tối cao.
Người Việt biết Ông Trời có bản tính công bình nhưng chưa biết Ðức Chúa Trời là Ðấng đầy ân điển và yêu thương.
Người Việt tin mệnh Trời không ai thay đổi được, kể cả số phận của mỗi người cũng được an bài, nhưng người Việt chưa biết Ðức Chúa Trời là Ðấng tôn trọng ý chí tự do của con người và là Ðấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.
Người Việt biết mình cần ăn hiền ở lành, nhưng không biết rằng tất cả những việc lành mình làm dù cao quí vẫn còn thiếu hụt, không thể sánh với tiêu chuẩn trọn lành Ðức Chúa Trời đòi hỏi, chẳng khác nào ngọn đèn cầy đem so với ánh mặt trời. Người Việt cần đón nhận chân la của Chúa để bù đắp cho sự thiếu hụt của mình.
Người Việt biết nguyên tắc "Thiện ác đáo đầu chung hữu báo" nhưng không biết căn nguyên của mọi nỗi đau khổ bất hạnh trong cuộc đời là do tội lỗi loài người xây lưng phản nghịch lại với Ðức Chúa Trời. Người Việt cần trước hết được Chúa tha tội.
Người Việt biết mình cần được cứu rỗi và đã khổ công đi tìm sự cứu rỗi nhưng chưa biết con đường cứu rỗi duy nhất là chương trình do Đức Chúa Trời vạch sẵn đã được thực hiện bởi Con Ngài là Chúa Giê-xu. Người Việt cần đặt đức tin nơi sự toàn năng, toàn tri, toàn thiện, toàn mỹ của một Ðức Chúa Trời chân thật. Nhiều niềm tin của người Việt về Ông Trời rất gần với Thánh Kinh, nhưng chưa đầy đủ.
Một số người do không biết Thánh Kinh nên cứ tưởng Ông Trời là hình ảnh Ngọc Hoàng Thượng Ðế tưởng tượng của người Trung Hoa. Thậm chí có người tin chuyện Tề Thiên Ðại Thánh là thật, theo đó Ngọc Hoàng Thượng Ðế cũng chịu thua Tôn Ngộ Không...
Chính vì thế mà người Việt chúng ta cần có sự mạc khải đặc biệt, đúng đắn, trực tiếp từ Ðức Chúa Trời. Sự mạc khải đặc biệt nầy chỉ có thể tìm được trong Thánh Kinh và qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.

"Việt Nam, quê hương tôi."
Người Việt Nam là dân tộc có tình cảm thiên phú thật nồng thắm, thiêng liêng sâu sắc. Nét độc đáo của đất nước và con người Việt Nam chỉ có trái tim hồng Việt Nam mới cảm nhận ra. Tình yêu quê hương, tình bà con, tình láng giềng, sự tự hào dân tộc, sự trung thành, lòng chung thủy, tình nghĩa vợ chồng, ơn cha nghĩa mẹ công thầy. Kho tàng ca dao, tục ngữ, nguồn thi văn phong phú, giọng nói ba miền Nam Trung Bắc, ngôn ngữ đơn thanh mà đa nghĩa, câu nói lái tài tình, câu thơ lục bát, sáu câu vọng cổ, câu vè, tiếng hò, tiếng sáo, tiếng đàn bầu, bài ca Quan Họ, chuyện cổ tích, bài ca tân cổ giao duyên. Những âm thanh quen thuộc như tiếng chày giã gạo, tiếng gà gáy, tiếng chim cu mùa hạ, tiếng vịt kêu ngoài đồng, tiếng ếch nhái trong đêm, tiếng khóc trẻ thơ, tiếng ầu ơ ru con. Những hình ảnh thân thương như mồ mã ông bà, mái trường làng, chiếc cầu treo, sân đình cũ, bến đò xưa, sân đạp lúa, con trâu, con bò, con lợn, cây đa, cây dương liễu, cây tre, cây mía, cây dừa, cây cau, trái khế, trái mít, trái ổi, trái vú sữa, trái sầu riêng, trái nhãn lồng. Những khung cảnh quen thuộc như vườn bắp, đồng lúa, khu chợ làng, mái nhà tranh, ngôi nhà ngói, con đường cái quan, hồ cá, con sông, con suối, dãy Trường Sơn, bờ biển dài cát trắng, chiếc ghe buồm lướt sóng. Những món ăn thuần túy như tô cơm trắng, ly nước trà, chén nước mắm, tô phở Bắc, tô mì Quảng, tô bún bò Huế, tô canh chua, chiếc bánh tráng, táng đường, cây kẹo gừng, con cá nục, cá ngừ, cá lóc, cá rô. Chiếc áo dài, chiếc áo bà ba, cái nón lá, mái tóc dài người phụ nữ. Ðám hỏi, đám cưới, đám tang. Ngày Tết.
Thiết tưởng nhắc đến bấy nhiêu hình ảnh cũng đủ để nói lên nét đặc thù thắm thiết Việt Nam. Ðó là những sợi chỉ điều thiêng liêng đã từng liên kết bao nhiêu thế hệ người Việt Nam, những người đã và đang sống trên mảnh đất quê hương còn nghèo nàn, từng kinh qua gian khổ của chiến tranh, loạn lạc, ghi đậâm dấu tích của bao đời kiên cường chịu đựng, nhưng vẫn cứ phấn đấu để vươn lên trong lạc quan tin tưởng và hy vọng.
Hai chữ quê hương càng ngọt ngào thấm thía hơn biết bao trong tâm tưởng của mọi người Việt tha hương vì lý do nầy hay lý do khác.
Một nhạc sĩ Việt Nam, nỗi tiếng với những bài dân ca và tình ca đằm thắm tình tự dân tộc, đã tóm gọn tình cảm, tài năng của mình trong câu nói: "Ông Trời đã sinh ra tôi như thế! Rồi khi trả lời câu hỏi "Mai sau dù có bao giờ?" ông đáp: "Tôi muốn được mọi người nhớ đến như một người Việt Nam!" Thiết tưởng đây cũng là câu nói phản ánh cái triết lý tâm linh tình cảm của mọi người mang dòng máu Việt Nam. Người Việt và Ông Trời có mối quan hệ thiết thân.

Chương 2
Chúa Giê-xu là hiện thân "Ông Trời" giáng thế

Có rất nhiều lý do để chúng ta tin Chúa Giê-xu chính là "Ông Trời" giáng thế để cứu vớt nhân loại nói chung và người Việt chúng ta nói riêng.

Các Bằng Chứng Không Thể Chối Cải

1. Chính Chúa Giê-xu tuyên bố Ngài là Con Ðức Chúa Trời.
Chúa Giê-xu phán: "Ta là đường đi, chân lý và sự sống. Chẳng bởi Ta thì không ai đến được cùng Cha" (Giăng 14:6). Ngài khẳng định: "Sự sống đời đời là nhìn biết Cha, tức là Ðức Chúa Trời có một và thật, cùng Giê-xu Christ là Ðấng Cha đã sai đến" (Giăng 17:3). Ngài còn phán: "Ai đã thấy Ta, tức là đã thấy Cha." Rồi Ngài phán tỏ tường: "Ta với Cha là một" (Giăng 10:30).
Một người tự xưng mình là Ông Trời giáng thế thì ta chỉ có thể đưa đến kết luận (1) đó là người điên, (2) đó là người lừa dối, hoặc (3) đó là người nói thật. Cuộc đời và ảnh hưởng của Chúa Giê-xu chứng tỏ Ngài không phải là người điên, Ngài không hề lừa dôí, Ngài luôn luôn nói thật.
Người ta chỉ có thể khước từ hoàn toàn hoặc chấp nhận hoàn toàn lời tuyên xưng của Ngài. Một Thượng Ðế thành người thì người đó phải sống, phải nói, phải làm được những việc mà xưa nay chỉ Thượng Ðế mới làm được mà thôi. Ðem áp dụng những tiêu chuẩn nầy vào Chúa Giê-xu, chúng ta có thể đi đến kết luận Ngài chính là Con Trời giáng thế như Ngài đã tuyên xưng. Chính vì lời tuyên bố độc đáo như vậy mà giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái thời bấy giờ đã cho Ngài là phạm thượng và quyết định xử tử Ngài. Dù đối diện với cái chết, Chúa Giê-xu vẫn không thay đổi lập trường và những lời tuyên xưng của Ngài. Chúa Giê-xu đã sống và chết với những lời tuyên bố thẳng thắn của Ngài.

2. Chúa Giê-xu làm những việc phi thường mà chỉ có Ông Trời mới có khả năng làm.
Ðể chứng minh cho lời tuyên xưng Ngài là Con Ðức Chúa Trời, Chúa Giê-xu đã làm nhiều việc lạ lùng mà chỉ có Ông Trời mới làm được mà thôi.
Ngài có quyền trên sự sống loài người. Ngài chữa lành mọi bệnh tật, khiến người mù được thấy, người điếc được nghe, người phung được sạch, người què kẻ bại được đi, thậm chí Ngài khiến kẻ chết sống lại.
Ngài có quyền đuổi quỉ. Ma quỉ biết Chúa Giê-xu và run sợ trước uy danh của Ngài. Khi Ngài phán, ma quỉ liền vâng lịnh ra khỏi nhiều người bị quỉ ám. Ngài chiến thắng mọi cám dỗ của Ma quỉ.
Ngài có quyền trên thiên nhiên. Ngài hóa nước thành rượu, Ngài đi bộ trên mặt biển, Ngài phán một lời thì cơn bão biển yên lặng như tờ. Ngài hóa 5 cái bánh và 2 con cá cho hơn 5000 người ăn no dư dật. Ngài chỉ dẫn cho các môn đồ đánh được những mẻ lưới đầy cá.
Ngài có lòng thương xót, quảng đại. Ngài tha thứ cho người tội lỗi và khuyên họ đừng tái phạm. Ngài sẵn sàng lắng nghe, tiếp xúc với mọi hạng người. Ngài yêu thương bồng ẵm và chúc phước cho các em thiếu niên, nhi đồng. Ngài động lòng thương xót khi thấy đoàn dân đông như chiên không có người chăn. Ngài không từ chối một ai tìm đến với Ngài.
Ngài tuyên bố tha tội và chấp nhận sự thờ phượng của nhiều người. Ðây là những hành động của một Ðức Chúa Trời sống giữa thế gian.

Sứ đồ Giăng quả quyết khi viết sách Phúc Âm Giăng: "Ðức Chúa Giê-xu đã làm trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách nầy. Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Ðức Chúa Giê-xu là Ðấng Cứu Thế, tức là Con Ðức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin thì nhờ Danh Ngài mà được sự sống" (Giăng 20:30-31).

3. Chúa Giê-xu nói những lời mà chỉ Ông Trời mới có đủ thẩm quyền nói được.
Ngài phán dạy về mối quan hệ của con người: "Các ngươi có nghe lời phán rằng: Hãy yêu người lân cận và hãy ghét kẻ thù nghịch mình. Song ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi, hầu cho các ngươi được làm con của Cha các ngươi ở trên trời; bởi vì Ngài khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác" (Ma-thi-ơ 5:43-45).
Ngài dạy về thái độ nên có với Ðức Chúa Trời: "Ðức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy. Ðó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy" (Giăng 4:24).
Ðức Khổng Tử khuyên dạy: "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân", nghĩa là điều gì mình không muốn người ta làm cho mình thì đừng làm điều đó cho họ. Chúa Giê-xu thì dạy dỗ chúng ta cư xử và hành động cách tích cực hơn: "Ấy vậy, hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ" (Ma-thi-ơ 7:12).
Chúa Giê-xu quả quyết: "Trời đất sẽ qua, nhưng lời ta nói chẳng bao giờ qua đi" (Ma-thi-ơ 24:35). Chắc chắn không một phàm nhân nào dám nói câu nầy.

Chúa Giê-xu còn tuyên bố Ngài là ánh sáng của thế gian, là bánh sự sống, là nước hằng sống, là người chăn hiền lành vì chiên phó sự sống mình. Ngài dạy những kẻ theo Ngài phải trở nên trọn vẹn như Cha ở trên trời là trọn vẹn. Ngài truyền cho những kẻ theo Ngài phải sống có ích như muối của đất, như ánh sáng của thế gian, phải thực hành điều răn: Kính Chúa, Yêu Người.

Không một Giáo chủ nào có khả năng giải đáp rõ về Thiên đàng, Ðịa Ngục, về thiên sứ, về ma quỉ, về đời sau, về sự phán xét, về sự sống vĩnh cửu và mọi nan đề khác như Chúa Giê-xu đã dạy. Ngài dạy có thẩm quyền và rõ ràng không ai bác bẻ được. Không cần ai nói trước Ngài vẫn biết rõ tên tuổi, tâm trạng, số phận từng người. Chúa Giê-xu đang biết rõ bạn và tôi. Ngài là Ðấng toàn tri, toàn hảo, toàn năng.

4. Chúa Giê-xu không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.
Người theo Phật Giáo , Khổng Giáo, Lão Giáo tự hào rằng Giáo chủ của họ ra đời trước Chúa Giê-xu năm, sáu trăm năm. Người Do Thái hãnh diện về tổ phụ của họ là Áp-ra-ham, là người đã ra đời trước Chúa khoảng 2000 năm, nhưng Chúa Giê-xu tuyên bố rằng: "Trước khi có Áp-ra-ham đã có Ta" nghĩa là Ngài là Ðấng Tự Hữu và Hằng Hữu. Sứ đồ Giăng đã xác chứng: "Ban đầu có Ðạo (Chúa Giê-xu). Ðạo ở cùng Ðức Chúa Trời và Ðạo là Ðức Chúa Trời. Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài" (Giăng 1:1-3). Ít nhất có ba lần Thánh Kinh ghi chép lại tiếng phán từ trời phát ra giữa lúc nhiều người nghe thấy nói rằng: "Nầy là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đường, hãy nghe lời Con đó."

Trước khi trở về trời, Chúa Giê-xu truyền lịnh cho các môn đồ: "Hết cả quyền phép trên trời, dưới đất đã giao cho Ta. Vậy hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Ðức Cha, Ðức Con và Ðức Thánh Linh mà làm phép báp-tem cho họ và dạy họ giữ hết tất cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế" (Ma-thi-ơ 28:18-20).
Hiện nay Ngài đang ở với chúng ta trong thân vị của Ðức Thánh Linh. Thánh Kinh quả quyết: "Chúa Giê-xu Christ hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi" (Hê-bơ-rơ 13:8).

5. Nhiều nhân chứng đáng tin xác tín Chúa Giê-xu là Con Ðức Chúa Trời.
Có rất nhiều nhân chứng đáng tin trước Chúa, đương thời Chúa và sau Chúa xác tín Chúa Giê-xu là Con Ðức Chúa Trời giáng thế.

a. Các tiên tri làm chứng: Tiên tri là những phát ngôn viên của Ðức Chúa Trời. Tiên tri Ê-sai báo trước về việc Chúa Cứu Thế giáng sinh bởi Nữ Ðồng Trinh. Ngài được xưng là Ðấng lạ lùng, là Ðấng mưu luận, là Ðức Chúa Trời quyền năng, là Cha đời đời, là Chúa bình an. Ngài cũng được xưng là Ðấng Em-ma-nu-ên nghĩa là Ðức Chúa Trời ở cùng chúng ta.
b. Thiên sứ làm chứng: Thiên sứ là những sứ giả của Ðức Chúa Trời thi hành mạng lịnh của Ngài. Khi báo tin với nữ đồng trinh Ma-ri, thiên sứ nói: "Hỡi Ma-ri, đừng sợ, vì ngươi đã được ơn trước mặt Ðức Chúa Trời. Nầy ngươi sẽ chịu thai và sanh một con trai đặt tên là Giê-xu. Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Ðấng Rất Cao..." (Lu-ca 1:30-32).
c. Giăng Báp-tít làm chứng: Giăng Báp-tít là người được Ðức Chúa Trời sai đến để dọn dường cho Chúa Cứu Thế. Giăng đã giới thiệu về Chúa Giê-xu : "Kìa, Chiên Con của Ðức Chúa Trời là Ðấng cất tội lỗi thế gian đi." Giăng còn nói: "Ta đã thấy Thánh Linh từ trời giáng xuống như chim bồ câu đậu trên mình Ngài... Ta đã thấy Ngài nên ta làm chứng rằng: Ấy chính Ngài là Con Ðức Chúa Trời" (Giăng 1:29-34).
d. Giáo sư Ni-cô-đem làm chứng: Giáo sư Ni-cô-đem là nhà tri thức, giàu có và quyền thế trong cộng đồng người Do Thái đã đến gặp Chúa Giê-xu để xin đàm đạo với Ngài. Ông nói lên quan điểm của giới lãnh đạo Do Thái: "Thưa thầy, chúng tôi biết thầy là giáo sư từ Ðức Chúa Trời đến, vì những phép lạ thầy đã làm đó, nếu Ðức Chúa Trời chẳng ở cùng, thì không ai làm được" (Giăng 3:2).
e. Sứ đồ Phi-e-rơ làm chứng: Phi-e-rơ là một trong 12 Sứ đồ được Chúa Giê-xu tuyển chọn để tiếp tục chức vụ của Ngài trên đất. Sau ba năm sống gần gủi Chúa với kinh nghiệm tai nghe mắt thấy và với tâm tánh cương trực, Sứ đồ Phi-e-rơ quả quyết: "Chúa là Ðấng Cứu Thế, Con Ðức Chúa Trời hằng sống." Ông tuyên bố: "Chẳng có sự cứu rỗi trong một Ðấng nào khác (ngoài Chúa Giê-xu) vì ở dưới trời chẳng có Danh nào khác ban cho loài người để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu" (Công Vụ 4:12).
f. Sứ đồ Phao-lô làm chứng: Phao-lô vốn là người chống Chúa, bắt bớ môn đồ của Ngài cách hung hăng, phạm thượng. Nhưng Chúa Giê-xu đã hiện ra với ông, mở mắt ông; ngay lập tức ông tin Ngài và dâng cả đời mình truyền bá Phúc Âm. Phao-lô giảng và viết nhiều về Chúa, nhưng vài lời sau đây cũng đủ để ta hiểu Phao-lô biết Chúa là ai và Ngài đã làm gì cho nhân loại chúng ta: "Vì chỉ có một Ðức Chúa Trời, và chỉ có một Ðấng Trung Bảo ở giữa Ðức Chúa Trời và loài người, tức là Ðức Chúa Giê-xu Christ, là người; Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người" (I Ti-mô-thê 2:5-6).
g. Dân Sa-ma-ri làm chứng: Chúa Giê-xu không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, dân tộc. Ngài cứu vớt cả thế gian. Chúa giảng đạo cho cả người Sa-ma-ri là dân tộc bị người Do Thái thù địch, coi thường. Nhiều người Sa-ma-ri xác nhận: "Chính chúng ta đã nghe Ngài và biết rằng chính Ngài thật là Cứu Chúa của thế gian" (Giăng 4:42).

6. Sự chết đền tội của Chúa Giê-xu xác nhận Ngài là Chúa Cứu Thế.
Chúa Giê-xu giáng thế không phải để dạy triết lý về sự cứu rỗi hoặc chỉ cho người ta con đường tu luyện để tự cứu rỗi. Ngài giáng thế là để thực hiện sự cứu rỗi bằng cách chịu chết đền tội cho cả loài người. Ngài đã chọn con đường thập tự giá là con đường khiêm nhường thay cho kiêu ngạo, vâng phục ý Trời thay cho ý riêng, vị tha thay cho vị kỷ, thuận phục thay cho phản nghịch, cậy sức Chúa thay cho cậy sức riêng.
Con đường thập giá là dũng khí của tinh thần bất bạo động, của lòng tin sắt đá nơi chính nghĩa, của niềm tin tất thắng nơi sự công bình.Vì thương xót loài người, Chúa Giê-xu kiên quyết tiến đến thập tự giá với tinh thần quả cảm, hy sinh. Ngài biết chắc: "Khi ta được treo lên khỏi đất, ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta." Chúa Giê-xu phải chết công khai treo thân trên thập giá giữa khoảng trời và đất để giải hòa mối quan hệ vốn đứt đoạn giữa Trời và người. Chúa Giê-xu chịu chết đổ huyết để thỏa mãn đòi hỏi của Luật Pháp, theo đó "không đổ huyết thì không có sự tha tội." Chúa Giê-xu chịu hy sinh để mở cho nhân loại con đường sống, nhờ đó nhân loại có quyền trực tiếp đến với Ðức Chúa Trời. Trên thập tự giá, Ngài cầu nguyện cho những kẻ giết Ngài: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì." Rồi Ngài tuyên bố: "Mọi sự đã được trọn." Sứ mạng Ngài đã được hoàn tất. Ngài đã trả xong nợ tội cho tất cả chúng ta.
Người đội trưởng La Mã chứng kiến cái chết hùng tráng, lạ lùng của Ngài đã thốt lên: "Quả thật, người nầy là Con Ðức Chúa Trời."

7. Sự sống lại khải hoàn của Chúa Giê-xu chứng minh Ngài đúng là Con Ðức Chúa Trời như Ngài tuyên bố.
Con đường thập tự giá hy sinh đã mở ra sự sống lại vinh hiển cao trọng. Sự khiêm nhường được tôn cao, mão gai đau khổ đã nở hoa thành mão triều thiên, sự chết dẫn đến sự sống. Hạt giống đã nẩy mầm xanh. Sau ba ngày nằm trong phần mộ, Ðức Chúa Giê-xu đã sống lại. Ngôi mộ trống, vải liệm còn nguyên, những lần hiện ra của Chúa, đời sống thay đổi lạ lùng của những môn đồ, những lời làm chứng quả quyết của họ, sự nhóm họp ngày Chúa Nhật thay cho ngày Sa-bát, sự ra đời của Cơ-đốc Giáo... là những bằng chứng không thể chối cải về sự phục sinh. Sự sống lại của Chúa Giê-xu đã chứng minh cho chân lý: tình thương thắng hận thù, thiện thắng ác, sự sống thắng sự chết, chân lý thắng ngụy lý, sự sáng láng thắng sự tối tăm, sự công bình thắng sự bất công, Thượng Ðế thắng Quỉ Vương. Ðức Chúa Trời chấp nhận giá chuộc Con Ngài đã trả thay cho loài người. Chúa Cứu Thế Giê-xu đã làm ứng nghiệm mọi lời tuyên bố của Ngài.

8. Lịch sử nhân loại minh chứng Chúa Giê-xu là Ðấng Cứu Thế.
Trải qua hai ngàn năm, thế giới có dân Do Thái tản lạc, tồn tại và hồi hương lập quốc. Nhân dân khắp năm châu có Cơ-đốc Giáo, có Lễ Giáng Sinh và Lễ Phục Sinh, có ngày Chúa Nhật, có niên hiệu Dương lịch Trước Chúa (TC) và Sau Chúa (SC), hằng năm có hàng triệu người hành hương thánh địa, có di tích ngôi mộ trống, có một phần ba dân số thế giới xưng mình là Cơ-đốc nhân (Christian), có nhà thờ, bệnh viện, có các Trường Ðại Học, có các Ðại Chủng Viện, có Hội Hồng Thập Tự và các tổ chức bác ái từ thiện, có nền văn minh, văn hóa hiện đại, có khoa học kỹ thuật tiên tiến, đời sống phụ nữ và trẻ em được nâng cao, nhân quyền được tôn trọng v.v... Tất cả những thực tế đó đã mặc nhiên chứng minh rằng Chúa Giê-xu là Ðấng Cứu Nhân Ðộ Thế và thế giới không được như ngày nay nếu không có Ngài. Rồi còn bao nhiêu cuộc đời đã được đổi mới với kinh nghiệm ngọt ngào, vui tươi, sống động khi gặp gỡ Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Những bằng chứng thực tế hùng hồn nói trên có làm cho bạn suy nghĩ ít nhiều về Chúa Giê-xu hay không? Chúa Giê-xu là ai và Ngài đã làm gì cho đời sống của bạn và tôi?
Chỉ cần bình tĩnh sáng suốt suy nghĩ một chút cũng đủ để chúng ta tin Ngài, chạy đến với Ngài, cảm tạ Ngài và cảm kích tôn thờ Ngài.

Con Ðường Sống
Người Việt Nam chúng ta có truyền thống thờ Trời. Các tôn giáo và tín ngưỡng Á Ðông đã góp phần tốt đẹp cho truyền thống nầy. Ðây cũng là ơn phúc Ðức Chúa Trời dọn dường để cho chúng ta đón nhận Ðạo Trời do Chúa Cứu Thế đem đến. Rất nhiều người đã đón nhận Ðạo Trời và đang kinh nghiệm sự sống và bình an cho tâm hồn. Còn bạn thì sao? Có lẽ bạn đã có tôn giáo và không dễ để bạn thực hiện cuộc cách mạng tâm linh, khi bạn từ giã con đường cũ để theo con đường mới. Hơn nữa, con đường theo Chúa là con đường thập tự giá nghĩa là con đường hẹp. Có thể bạn sẽ trả giá khi bị người thân hiểu lầm hoặc bạn bè chê bai. Tuy nhiên, con đường theo Chúa là con đường dẫn đến sự bình an và sự sống vĩnh cửu. Giá bạn trả không thể so sánh với phước hạnh bạn nhận được.
Ðây là một vấn đề sống chết cần quyết định ngay, không thể chần chừ. Có ai biết lúc nào mình sẽ về chầu Trời? Mong bạn chọn ngay cho đời mình con đường đẹp lòng Trời. Mong bạn mau mau điều chỉnh tín ngưỡng cho hợp Ý Trời.

Bạn đang là môn đệ của Khổng Giáo chăng? Hãy nhớ lại lời thánh hiền: "Hoạch tội ư Thiên, vô sở đảo giả" nghĩa là đã phạm tội với Trời thì không thể cầu đảo ở đâu khác được. Khổng Giáo nhấn mạnh đến Nhân Ðạo, không rành Thiên Ðạo. Biếtù Nhân Ðạo rồi, mời bạn hãy tìm Thiên Ðạo. Tin thờ Ðức Chúa Trời như lời dạy của Chúa Giê-xu chắc chắn là hợp với tôn chỉ các bậc thánh hiền..
Bạn đang thờ cúng ông bà? Ðạo Trời giúp bạn làm tròn bổn phận đối với Trời và với người một cách quân bình cân đối. Bạn có biết hiếu kính cha mẹ vừa là một mạng lịnh vừa là một lời hứa của Ðức Chúa Trời không? "Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được phước và sống lâu trên đất" (Ê-phê-sô 6:2,3).
Bạn đang là đạo hữu Phật Giáo chăng? Phật Giáo là tôn giáo chính của nhiều nước Á Ðông. Nhưng triết lý Phật Giáo rất cao siêu, ít người đạt tới mục đích Giác Ngộ. Vì thế người Phật tử dù khổ công tu luyện vẫn không biết chắc khi nào được giải thoát. Tôi không có ý muốn tranh luận về triết lý tôn giáo, chỉ xin đưa ra đây vài nét khác nhau giữa triết lý Phật Giáo và Phúc Âm để bạn dễ so sánh và lựa chọn.
Phật Giáo chủ trương tự giác, cậy sức mình tu luyện là chính. Phúc Âm chủ trương tin cậy ân huệ và sức Chúa hoàn toàn. Phật Giáo dạy người giáo hữu phải tạo ra công đức để mong được giải thoát. Phúc Âm dạy người tín hữu lấy đức tin tiếp nhận lấy sự cứu rỗi như món quà quí báu Chúa đã sắm sẵn xong và tặng không cho chúng ta được hưởng.
Mục đích của Phật Giáo là đến cõi Niết-bàn tức là trạng thái không còn bản thân nữa, tịch diệt tham dục, không còn sinh tử luân hồi. Mục đích của người theo Chúa là được Chúa tha tội và được ơn cứu rỗi khởi đầu ngay trong cuộc sống hiện tại. Hy vọng của người theo Chúa là sau khi lìa đời được vui hưởng Thiên đàng, sống đời đời ở một nơi có thật, là nhà Cha, là thành thánh vinh hiển phước hạnh, là quê hương trên trời. Người theo Chúa rất yên tâm và thỏa lòng về sự cứu rỗi Chúa ban. Bạn có đang thỏa lòng với con đường tu hành của bạn không? Bạn có đang chắc chắn mình sẽ được giải thoát không?

Có tôn giáo chưa đủ, bạn cần phải chắc chắn được cứu rỗi linh hồn.
Phần lớn người Việt Nam đều đã có tôn giáo. Nhưng có tôn giáo chưa đủ. Có nhiều triết lý chỉ có giá trị trong đời nầy mà không có giá trị trong đời sau.
Ðiều ưu tiên hàng đầu của chúng ta không phải là theo một triết lý tôn giáo để trấn an lương tâm, nhưng là có được một Ðấng bảo đảm cứu ta thoát vòng tội lỗi và sự chết đời đời. Chúng ta cần thoát khỏi hỏa ngục và vui hưởng thiên đàng. Hỏa ngục có thật cũng như thiên đàng có thật. Hỏa ngục là nơi cả xác lẫn hồn đều đau đớn, khốn khổ. Trong hỏa ngục, phản ứng của con người là khóc lóc, than vãn, nghiến răng. Hỏa ngục là nơi không có ánh sáng, là vực sâu không đáy. Ở hỏa ngục không có hy vọng ra khỏi, không có nghỉ ngơi, không có thời hạn chấm dứt. Chỉ những người tin cậy và vâng lời Chúa Cứu Thế Giê-xu mới vượt khỏi sự chết mà đến sự sống, thoát khỏi địa ngục mà đến thiên đàng.
Các giáo chủ tôn giáo đã có những cố gắng rất tốt khuyên dạy chúng ta làm lành lánh dữ, nhưng mọi nổ lực của loài người vẫn không đạt được tiêu chuẩn công bình trọn vẹn của Ðức Chúa Trời. Ðức Chúa Trời chỉ chấp nhận giá trả của Chúa Giê-xu đền tội cho nhân loại mà thôi. Khi về chầu Trời thì không giáo chủ nào binh vực khẩn đảo cho chúng ta được. Chính bản thân của họ là người cũng phải chầu Trời để chịu phán xét. Lúc đó chỉ có Chúa Giê-xu là Con Trời hiện đang ngồi bên hữu Ðức Chúa Trời cầu thay cho chúng ta mà thôi.
Vậy thì điều chỉnh đức tin trở lại tôn thờ Ðức Chúa Trời đúng như Chúa Cứu Thế Giê-xu vạch đường chỉ lối chẳng những là việc làm hợp tình hợp lý mà còn là con đường sống duy nhất hôm nay.

Cầu nguyện tiếp nhận Chúa
Ðức Chúa Trời đang chờ đợi bạn quay về cùng Chúa. Ðây là bước quan trọng nhất bạn cần làm hôm nay. Nếu bạn thật lòng muốn quay về cùng Chúa, mời bạn hãy lấy đức tin kêu cầu Chúa mấy lời chân thành sau đây:

"Kính lạy Ðức Chúa Trời Hằng Sống:
Con biết Ngài là Chân Thần, là Ðấng dựng nên trời đất, là Ðấng dựng nên đời con. Lâu nay con xa cách Chúa, phạm tội với Ngài. Nhưng Ngài không hình phạt con mà còn ban ơn cho con. Ngài đã sai Con Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-xu giáng trần chịu chết đền tội cho con và đã từ cõi chết sống lại. Con hoàn toàn tin cậy Chúa là Ðấng duy nhất đưa con đến thiên đàng. Nay con xin ăn năn tội quay về cùng Chúa, nhận Ngài làm Cứu Chúa và Chúa của đời con. Xin Chúa ngự vào tâm hồn và đời sống con, tha tội cho con, nhận con làm con cái của Chúa, và biến đổi đời con để từ nay con có thể sống một đời sống đẹp lòng Ngài. Con thành kính cảm ơn Chúa và cầu nguyện trong Danh Chúa Cứu Thế Giê-xu. Muốn thật hết lòng."

Thánh Kinh chép: "Nhưng hễ ai đã tin nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Ðức Chúa Trời" (Giăng 1:12).
Như vậy, nếu hôm nay bạn thật lòng tin nhận Chúa, bạn đã trở thành con cái Chúa rồi. Hãy tin Lời Chúa, đừng tin cảm giác của bạn. Con đường sống đang mở ra thênh thang trước mắt bạn. Mời bạn đến gia nhập một Hội Thánh Tin Lành địa phương gần nơi bạn ở để cùng thờ phượng Chúa, học hỏi Lời Chúa và hầu việc Chúa. Bạn cần Hội Thánh để giúp bạn lớn lên và đồng hành với bạn trên con đường theo Chúa. Chúc mừng bạn gia nhập vào gia đình của Ðức Chúa Trời.

Mục sư Nguyễn Văn Huệ


Bài viết mới nhất :
Bạn là TÁC GIẢ:
Thành Viên của chúng tôi:

Một tên trộm còn đang sống

Bài viết mới nhất :
Bạn là TÁC GIẢ:
Thành Viên của chúng tôi:

Khác nhau cách nói

Bài viết mới nhất :
Bạn là TÁC GIẢ:
Thành Viên của chúng tôi:

Đào khản chuyển gạch

Bài viết mới nhất :
Bạn là TÁC GIẢ:
Thành Viên của chúng tôi:

Từ Khi Chúa Vào Đời

Bài viết mới nhất :
Bạn là TÁC GIẢ:
Thành Viên của chúng tôi:

Hỏi Đáp Niềm Tin

TIN LÀNH LÀ GÌ

SỨC KHỎE- ĐỜI SỐNG

Xem tất cả Sức khỏe đời sống »

SẮC ĐẸP

Xem tất cả Sắc đẹp »

GIA CHÁNH

Xem tất cả Gia chánh »

MẸ & BÉ

Xem tất cả Mẹ và bé »

Thánh ca

Khoa học niềm tin

Media

...