Hôm nay:

BÀI VIẾT- BÀI LUẬN- GHI CHÚ

Xem tất cả Các bài luận- viết »

ĐỜI SỐNG CƠ ĐỐC

Xem tất cả Đời sống Cơ Đốc»

CHUYÊN MỤC HỎI ĐÁP

Xem tất cả Câu hỏi đáp »

.
THƯ MỤC BẠN MUỐN XEM: TỪ PHẬT GIÁO ĐẾN TIN LÀNH
Hiển thị các bài đăng có nhãn TỪ PHẬT GIÁO ĐẾN TIN LÀNH. Hiển thị tất cả bài đăng

Hòa Thượng Trông Thấy Đức Phật Bị Thiêu Đốt Trong Địa Ngục...

Đăng bởi Bùi Qúy Đôn | Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013










TU SĨ PHẬT GIÁO (Athet Pyan Shinthaw Paulu) CHẾT, ĐƯỢC SỐNG LẠI, THAY ĐỔI CUỘC SỐNG

Giới Thiệu:

    Câu chuyện sau đây là bản dịch của lời chứng được ghi âm trên băng cassette về một người được thay đổi. Đây không phải là lời phỏng vấn hoặc tiểu sử nhưng chỉ là lời làm chứng từ chính miệng của anh ta. Có nhiều người phản ứng cách khác nhau khi nghe câu chuyện nầy. Một số người được cảm động, một số nghi ngờ, một số người khác chế giễu, trong khi một số khác đầy dẫy sự giận dữ, họ nói rằng những lời nầy là tiếng gầm thét của kẻ điên hoặc là sự lừa dối có chi tiết. Một số Cơ đốc nhân đã chống lại câu chuyện nầy chỉ vì những sự kiện lạ lùng mô tả ở trong đó không thích hợp với hình ảnh yếu ớt của họ về một Đức Chúa Trời toàn năng. Một số người nói rằng vị tu sĩ trong câu chuyện này chưa thực sự chết, nhưng bị hôn mê, và những gì anh ta thấy và nghe là phần của cơn sốt đẩy vào ảo tưởng. Dù bạn nghĩ như thế nào, thì sự kiện đơn giản còn lại ấy là những biến cố trong câu chuyện này đã biến đổi con người nầy tận gốc rễ, khiến cho cuộc đời của người nầy thay đổi một góc 180 độ sau những biến cố thuật lại dưới đây. Anh ta đã can đảm và không sợ hãi gì khi kể lại câu chuyện của đời mình dù phải trả giá rất cao, kể cả bị tù. Anh ta đã bị bà con, bạn hữu, đồng nghiệp khinh bỉ và đối diện với sự đe dọa giết chết nếu không đồng ý nhượng bộ sứ điệp của anh. Động cơ nào khiến người đàn ông nầy liều mình từ bỏ mọi sự? Dù chúng ta tin hay không, thì câu chuyện của anh cũng đáng cho chúng ta lắng nghe và xem xét. Ở thế giới hoài nghi Phương Tây, nhiều người đòi hỏi bằng cớ của những người như thế, bằng cớ có thể đứng vững trước tòa án. Không nghi ngờ gì, liệu chúng ta có thể bảo đảm chắc chắn rằng tất cả những điều nầy xảy ra không? Không, chúng ta không thể. Nhưng chúng tôi cảm thấy rằng đáng cho chúng ta nghe câu chuyện nầy bằng tiếng nói của anh ta để độc giả tự phán đoán.

Những Năm Đầu Của Đời Tôi:

    Kính chào quí vị. Tôi tên là Athet Pyan Shinthaw Paulu. Tôi ở tại đất nước Miến Điện. Tôi hân hạnh được chia sẻ lời chứng của tôi về những gì xảy ra cho tôi, nhưng trước hết, tôi xin vắn tắt về quảng đời thơ ấu của tôi.
    Tôi sinh năm 1958 ở làng Bogale, thuộc Bình Nguyên Irrawaddy của miền nam Miến Điện (trước kia gọi là Burma). Cha mẹ tôi là người rất sùng kính Phật giáo giống như hầu hết những người ở Miến Điện, đặt tên tôi là Thitpin (có nghĩa là “cây”). Cuộc sống tôi rất đơn giản tại nơi tôi lớn lên. Đến khi được 13 tuổi, tôi nghỉ học, và bắt đầu làm việc trên một thuyền đánh cá. Chúng tôi bắt được nhiều cá và đôi khi có tôm ở nhiều sông ngòi và suối ở vùng Irrawaddy. Khi được 16 tuổi, tôi là trưởng của chiếc thuyền đó. Vào lúc nầy, tôi sống ở vùng thượng lưu Mainmahlagyon Island (Mainmahlagyon có nghĩa là “Đảo phụ nữ xinh đẹp”), chỉ ở phía bắc của Bogale, nơi tôi được sinh ra. Vùng nầy khoảng 100 dặm về phía tây nam của Yangon (Rangoon) thủ đô của Miến Điện.
    Một ngày nọ, khi tôi 17 tuổi, chúng tôi bắt được rất nhiều cá trong lưới. Vì cớ nhiều cá nên một con cá sấu khổng lồ tấn công chúng tôi. Nó bơi theo thuyền của chúng tôi và cố gắng tấn công. Chúng tôi rất hoảng kinh, vì vậy chúng tôi chèo thuyền nhanh về hướng bờ sông. Con cá sấu theo sau chúng tôi và dùng đuôi của nó đập nát thuyền. Mặc dầu không ai bị chết trong cảnh ngộ nầy, nhưng sự tấn công đã ảnh hưởng rất lớn trên đời sống tôi. Tôi không còn muốn đi bắt cá nữa. Chiếc thuyền nhỏ của chúng tôi bị chìm vì cá sấu tấn công. Tối đó chúng tôi về làng nhờ chiếc thuyền khác.
    Không lâu sau đó, người chủ của cha tôi chuyển ông ta đến thành phố Yangon (Rangoon). Đến 18 tuổi, tôi được gởi vào một tu viện Phật giáo để làm tu sĩ tập sự. Hầu hết cha mẹ ở Miến Điện đều cố gắng gởi con trai mình vào một tu viện Phật giáo, ít ra một thời gian, vì họ xem đó là một vinh dự lớn khi có con trai phục vụ theo cách ấy. Chúng tôi đã giữ phong tục này hàng nhiều trăn năm nay.

Môn Đệ Nhiệt Thành Của Phật Giáo:

    Vào năm 1977, khi tôi được 19 tuổi 3 tháng, tôi trở thành một tu sĩ thực thụ. Vị sư trưởng tu viện của tôi cho tôi một pháp danh, đây là phong tục của nước tôi. Bây giờ tôi được gọi là U Nata Pannita Ashinthuriya. Khi trở thành tu sĩ, chúng tôi không còn dùng tên do cha mẹ đặt cho khi mới sanh. Tên của tu viện nơi tôi sống gọi là Mandalay Kyaikasan Kyaing. Tên của vị sư trưởng là U Zadila Kyar Ni Kan Sayadaw (U Zadila là tước hiệu của ông – như Hòa thượng). Ông từng là tu sĩ phật giáo nổi tiếng nhất ở tại Miến Điện lúc bấy giờ. Mọi người đều biết ông là ai. Ông được mọi người kính trọng và tôn ông là giáo sư vĩ đại.  Năm 1983, thình lình ông qua đời vì bị tai nạn xe. Sự qua đời của ông làm mọi người sững sốt. Lúc ấy tôi đã làm tu sĩ được 6 năm, tôi cố sức để trở thành tu sĩ giỏi nhất và tuân theo mọi giới luật của Phật giáo. Đến một giai đoạn tôi đi vào nghĩa trang gần chỗ tôi sống và suy tư liên tục. Vài tu sĩ thật sự muốn biết những chân lý về đức Phật cũng làm giống như tôi làm. Một số người đi sâu vào rừng để họ sống một cuộc đời từ bỏ chính mình và nghèo khổ. Tôi tìm cách để từ bỏ những tư tưởng ích kỷ, và dục vọng, để trốn thoát khỏi bệnh tật và đau khổ và muốn phá vỡ vòng luân hồi của trần gian nầy. Tôi cố đạt cho được sự bình an trong tâm hồn và tự ý thức, thậm chí khi một con muỗi sà vào cắn, tôi cứ để nó hút máu mà không đập nó!
    Trãi qua nhiều năm tôi phấn đấu để trở thành tu sĩ tốt nhất và không làm hại bất kỳ sinh vật nào. Tôi học tập những sự dạy dỗ thánh của Phật giáo như tổ tiên đã làm trước tôi. Cuộc đời làm tu sĩ của tôi cứ tiến lên cho đến một ngày tôi bị đau rất nặng. Tôi ở Mandalay vào thời điểm đó và được đưa đến bệnh viện để chữa trị. Bác sĩ đã làm một số xét nghiệm trên tôi và cho tôi biết là tôi bị sốt vàng và sốt rét cùng một lúc! Sau một tháng ở bệnh viện, sức khỏe của tôi tệ hại hơn. Các bác sĩ bảo rằng không còn cơ hội cho tôi được phục hồi và họ cho tôi xuất viện để về nhà chờ chết.
    Đây là phần mô tả vắn tắt về quá khứ của tôi. Bây giờ tôi muốn kể cho quí vị nghe những điều đáng lưu ý xảy ra cho tôi sau thời điểm đó….

Một Khải Tượng Làm Thay Đổi Cuộc Đời Vĩnh Viễn:

Sau khi xuất viện, tôi trở lại tu viện, tại đấy các tu sĩ khác chăm sóc cho tôi. Tôi càng ngày càng yếu hơn và bị hôn mê. Về sau tôi được người ta cho biết rằng tôi đã chết ba ngày. Thân thể tôi bị thối và tim tôi đã ngừng đập. Người ta chuẩn bị liệm và đưa qua nghi lễ tẩy uế truyền thống của Phật giáo. Dù thân thể tôi bị hủy hoại, nhưn tôi nhớ rằng tâm trí và tâm linh của tôi lại rất nhạy bén. Tôi đang ở trong một trận bão rất lớn. Cơn gió rất mạnh san bằng toàn thể cảnh vật cho đến khi không còn một cây hoặc bất kỳ thứ gì còn lại, ngoài một khoảnh đất trống trơn. Tôi đi nhanh qua bình nguyên nầy một lúc. Chẳng còn ai cả, chỉ một mình tôi đi. Sau một lúc tôi băng qua một con sông. Bên kia bờ sông, tôi thấy một hồ lửa rất khủng khiếp, khủng khiếp lắm. trong Phật giáo, chúng tôi không có ý niệm về một nơi giống như vậy. Ban đầu tôi rối trí và không biết đó là địa ngục cho đến khi tôi nhìn thấy Yama, vua của địa ngục (Yama là tên đặt cho vua của địa ngục trong nhiều nền văn hóa Á châu). Mặt của vua này giống như mặt sư tử, nhưng chân của nó giống như chân của rắn. Nó có một số sừng. mặt nó dữ tợn và tôi rất sợ hãi. Run rẩy, tôi hỏi tên của nó. Nó trả lời, “Ta là vua của địa ngục, Kẻ hủy diệt”

Hồ Lửa Rất Khủng Khiếp:

    Vua của địa ngục bảo tôi nhìn vào hồ lửa. Tôi nhìn và thấy chiếc áo choàng màu của tu sĩ Phật giáo Miến Điện. Tôi nhìn kỹ hơn và thấy đầu trọc của một người đàn ông. Khi tôi nhìn vào mặt ông ta, tôi nhận ra đó là U Zadila Kyar Ni Kan Sayadaw (Vị tu sĩ nổi tiếng đã chết trong tai nạn xe hơi năm 1983). Tôi hỏi vua địa ngục vì sao người lãnh đạo trước kia của tôi lại bị giam trong hồ tra tấn nầy. Tôi nói, “Tại sao ông ta ở trong hồ lửa nầy? Ông ta là giáo sư lỗi lạc. Thậm chí ông ta đã có một cuộn băng gọi là “Bạn là con người hay một con chó?” giúp cho hàng ngàn người hiểu rằng, là người, họ có giá trị rất lớn so với súc vật. Vua của địa ngục trả lời, “Đúng, ông ta là một giáo sư lỗi lạc, nhưng ông ta không tin Jêsus Christ. Đó là lý do ông ta ở trong địa ngục”.
    Rồi vua địa ngục bảo tôi nhìn vào một người khác ở trong hồ lửa. Tôi nhìn thấy một người tóc rất dài vắt ngang qua bên trái đầu của ông ta. Ông ta cũng mặc áo choàng dài. Tôi hỏi vua địa ngục, “Ông nầy là ai?” Nó trả lời, “Đây là người mà ngươi thờ kính: Gautama (Phật Thích Ca). Tôi kinh hoàng nhìn thấy Gautama ở địa ngục. Tôi cãi lại, “Gautama là người rất đạo đức, rất tốt, tại sao ông ta lại chịu khốn khổ ở hồ lửa?” Vua địa ngục trả lời, “Cho dù ông ta đạo đức đến đâu, nếu ông ta không tin nơi Đức Chúa Trời đời đời, thì ông ta vẫn ở nơi nầy”.
    Sau đó tôi thấy một người khác, giống như mặc bộ đồ quân phục. Ông ta có một vết thương lớn ở ngực. Tôi hỏi, “Ông nầy là ai?”
    Vua địa ngục bảo, “Đây là Aung San, lãnh tụ cách mạng của Miến Điện. Aung San ở đây vì ông ta ngược đãi và giết nhiều Cơ đốc nhân, nhưng chính là vì ông ta đã không tin nơi Jêsus Christ”. Ở Miến Điện, người ta thường có câu tục ngữ, “Người lính chẳng bao giờ chết, họ cứ sống mãi”. Vua địa ngục nói với tôi rằng những quân đoàn của địa ngục đã có câu tục ngữ, “Những người lính chẳng bao giờ chết, nhưng họ đi xuống địa ngục đến đời đời”.
    Tôi nhìn xem thấy một người khác ở trong hồ lửa. Ông ta rất to lớn và mặc đồ chiến. Ông ta cũng cầm một thanh gươm và một cái khiên. Người nầy có một vết thương ở trên trán. Người nầy cao lớn hơn bất kỳ người bình thường nào mà tôi từng thấy. Chiều cao của ông ta bằng sáu lần chiều dài từ cùi chỏ của người nam đo ra chót ngón tay khi duỗi thẳng ra cộng với một gang tay. Vua địa ngục nói, “Người nầy tên là Gô-li-át. Hắn ta ở địa ngục vì hắn phỉ báng Đức Chúa Trời đời đời và tôi tớ Ngài là Đa-vít”. Tôi bối rối vì tôi không biết Gô-li-át và Đa-vít là ai cả. Vua địa ngục nói, “Gô-li-át được ghi lại trong Kinh thánh Cơ-đốc. Bây giờ ngươi không biết, nhưng khi ngươi trở thành Cơ đốc nhân, ngươi sẽ biết hắn là ai”.
    Sau đó tôi được đưa đến một nơi tôi thấy cả người giàu và nghèo lo chuẩn bị bữa ăn tối. Tôi hỏi, “Ai nấu thức ăn cho những người nầy?” Vua địa ngục trả lời, “Người nghèo thì tự họ nấu ăn, còn người giàu thì nhờ người khác nấu cho họ”. Khi thức ăn được chuẩn bị xong, người giàu ngồi xuống ăn. Khi họ bắt đầu ăn thì khói mù mịt bay lên. Người giàu ăn lấy ăn để để làm dịu lương tâm của họ. Họ phải thở khó khăn lắm vì khói. Họ phải ăn nhanh vì họ sợ mất tiền. Tiền bạc là thần của họ.
    Một vua khác của địa ngục đến gần tôi. Tôi cũng thấy một con vật có công tác cho than vào lửa bên dưới hồ lửa để làm cho nó nóng thêm. Con vật nầy hỏi tôi, “Mầy cũng muốn đi vào hồ lửa nầy phải không?” Tôi trả lời, “Không, tôi đến đây để quan sát thôi”. Vẻ mặt của con vật khều lửa nầy rất dữ tợn. Nó có mười cái sừng trên đầu, một cây giáo trên tay và bảy lưỡi dao bén nhọn từ đầu cây giáo. Con vật này nói với tôi, “Mầy nói đúng. Mầy đến đây chỉ để quan sát thôi. Ta không tìm thấy tên mầy ở đây”.
    Nó nói, “Bây giờ ngươi trở về nơi trước khi ngươi đến đây”. Nó chỉ cho tôi về hướng đồng bằng hoang vu mà tôi đã đi qua trước khi tôi đến hồ lửa nầy”. 

Con Đường Quyết Định:

    Tôi đi bộ rất xa, cho đến khi chân tôi chảy máu. Tôi bị nóng và đau đớn dữ dội. Cuối cùng khi tôi đi bộ khoảng ba giờ, tôi đến một con đường rộng. Tôi đi trên đường rộng nầy một lúc cho đến một ngã ba. Một nhánh đi về phía trái, rất rộng. Một nhánh nhỏ hơn đi về phía bên phải. Ở chỗ ngã ba có một bảng hiệu nói rằng con đường bên trái dành cho những người không tin nơi Chúa Jêsus Christ. Con đường bên phải dành cho những người tin nơi Chúa Jêsus. Tôi muốn biết con đường rộng dẫn đến đâu, nên tôi bắt đầu đi. Có hai người đàn ông đi trước tôi 300 thước. Tôi cố gắng đi nhanh để bắt kịp họ, nhưng dù tôi rán sức đến đâu cũng không theo kịp, do đó tôi quay lại ngã ba. Tôi tiếp tục nhìn hai người đàn ông đó khi họ đi xa khỏi tôi. Lúc họ đến cuối con đường thì thình lình họ rơi xuống. Hai người đàn ông nầy hét lên khủng khiếp! Tôi cũng hét lên khi thấy những gì xảy ra cho họ! Tôi biết rằng con đường rộng chấm dứt trong sự nguy hiểm kinh khủng cho ai đi trên đó.

Nhìn Lên Thiên Đàng:

    Tôi bước đi trên con đường của những người tin theo Chúa Jêsus. Sau khi đi khoảng một giờ thì mặt đường đổi thành vàng ròng. Nó trong suốt đến nỗi khi tôi nhìn xuống thì thấy mặt tôi rõ ràng. Sau đó tôi thấy một người đàn ông đứng trước mặt tôi. Ông ta mặc chiếc áo choàng trắng. Tôi cũng nghe người ta hát rất hay. Ồ, quá tuyệt vời và tinh khiết! Rất có ý nghĩa và hay hơn rất nhiều so với những buổi thờ phượng trong những nhà thờ ngày nay trên đất nầy. Người đàn ông mặc áo trắng bảo tôi cùng đi với ông. Tôi hỏi ông tên gì, nhưng ông ta không trả lời. Sau khi tôi hỏi tên ông đến sáu lần, thì ông ta trả lời, “Ta là người giữ chìa khóa của thiên đàng. Thiên đàng là nơi rất đẹp, rất tuyệt vời. Bây giờ ngươi không thể vào đây, nhưng nếu ngươi đi theo Jêsus Christ thì ngươi có thể vào sau khi cuộc sống trên đất của ngươi chấm dứt”. Tên của người đàn ông ấy là Phi-e-rơ.
    Phi-e-rơ bảo tôi ngồi xuống và ông ta chỉ cho tôi thấy một chỗ ở phía bắc. Ông nói, “Nhìn về hướng bắc và nhìn thấy Đức Chúa Trời tạo dựng một người đàn ông. Đức Chúa Trời phán với một thiên sứ, “Chúng ta hãy dựng nên một người đàn ông”. Thiên sứ năn nỉ với Đức Chúa Trời và nói, “Xin Ngài đừng dựng nên người đàn ông. Người ấy sẽ làm điều sai trái và làm Ngài buồn lòng”. (Nghĩa đen theo tiếng Miến Điện là người ấy sẽ làm Ngài mất mặt). Nhưng dù sao Đức Chúa Trời vẫn tạo dựng một người đàn ông. Ngài đặt tên người ấy là “A-đam” (Ghi chú: Những người Phật giáo không tin nơi sự tạo dựng của thế giới hay của con người, vì vậy kinh nghiệm đó gây tác động có ý nghĩa trên tu sĩ nầy).

Trở Về Trái Đất Với Tên Mới:

    Sau đó Phi-e-rơ nói, “Bây giờ hãy đứng dậy và trở lại chỗ trước khi ngươi đến đây. Hãy nói với những người thờ phượng Phật Thích Ca và những người thờ lạy hình tượng. Nói với họ rằng họ phải đến địa ngục nếu họ không thay đổi. Những người xây dựng chùa và thần tượng cũng sẽ đi địa ngục. Những người cúng tiền cho các tu sĩ để lấy công quả cũng sẽ đi xuống địa ngục. Tất cả những người cầu nguyện với các tu sĩ và gọi họ bằng “Pra” (tước hiệu tôn kính đối với tu sĩ) sẽ xuống địa ngục. Tất cả những người cầu kinh và “ban sự sống” cho hình tượng sẽ xuống địa ngục. Tất cả những người không tin Jêsus Christ sẽ xuống địa ngục”. Phi-e-rơ bảo tôi quay về trái đất và làm chứng về những gì tôi đã thấy. Ông cũng nói, “Ngươi phải nói bằng tên mới của ngươi. Từ bây giờ trở đi, ngươi sẽ được gọi là Athet Pyan Shinthaw Paulu (Phao-lô trở lại cuộc sống).
    Tôi không muốn quay lại quả đất. Tôi muốn đi thiên đàng. Các thiên sứ mở ra một cuốn sách. Trước hết họ tìm tên hồi nhỏ của tôi (Thitpin) trong sách, nhưng họ không thể tìm được. Rồi họ tìm tên mà tu viện đặt cho tôi khi làm tu sĩ Phật giáo (U Nata Pannita Ashinthuriya), nhưng họ cũng không thấy. Rồi Phi-e-rơ bảo, “Tên của ngươi chưa được viết vào đây, ngươi phải trở về trần gian và làm chứng về Chúa Jêsus cho những người theo Phật giáo”.
    Tôi trở lại con đường bằng vàng. Một lần nữa tôi được nghe hát rất hay, loại nhạc mà tôi chưa được nghe trước đây. Phi-e-rơ cùng đi với tôi cho đến giờ tôi phải quay về quả đất. Ông ấy chỉ cho tôi một cái thang từ trời xuống bầu trời. Cái thang nầy không chạm đến quả đất, nhưng dừng lại ở giữa chừng bầu khí quyển. Trên cái thang nầy tôi thấy rất nhiều thiên sứ, một số đi lên trời, một số đi xuống. Họ rất bận rộn. Tôi hỏi Phi-e-rơ, “Họ là ai?” Phi-e-rơ trả lời, “Họ là những sứ giả của Đức Chúa Trời. Họ đang trình lên thiên đàng tên của những người đã tin nơi Jêsus Christ và tên của những người không tin Jêsus Christ. Sau đó Phi-e-rơ bảo tôi đến lúc tôi phải trở về.

Con Ma! Con Ma!

    Điều kế tiếp mà tôi nhận ra là tiếng khóc. Tôi nghe mẹ tôi khóc lớn, “Con trai ơi, con ơi, sao con bỏ cha mẹ lại đây?” Tôi cũng nghe nhiều người khóc. Tôi nhận thấy mình đang nằm trong một chiếc quan tài. Tôi bắt đầu cử động. Cha mẹ tôi bắt đầu la lớn, “Nó sống rồi! Nó sống rồi!” Những người khác đứng xa hơn không tin cha mẹ tôi. Sau đó, tôi chống tay trên thành quan tài và ngồi thẳng dậy. Nhiều người sững sốt, kinh khiếp. Họ la lên, “Con ma! Con ma!” và chạy bán sống bán chết.
    Những người còn lại chết điếng và run rẩy. Tôi nhận ra mình đang ngồi trên đống nước nhờn và thối, là chất nước trong thân thể chảy ra, chắc được ba tách rưỡi nước nhờn. Đó là loại nước từ bao tử và những bộ phận bên trong của tôi chảy ra khi tôi nằm trong quan tài. Đây là lý do người ta biết rằng tôi thực sự chết rồi. Bên trong quan tài có một loại giấy ni-lông dán chặt vào lớp gỗ. Lớp ni-lông nầy giữ cho nước thối của tử thi không chảy ra, vì rất nhiều người chết chảy ra nhiều nước giống như vậy.
    Về sau tôi biết rằng chỉ vài phút sau là người ta đem xác tôi đi thiêu. Tại Miến Điện, người chết được đặt trong quan tài, họ đóng nắp hòm lại, rồi thiêu cả quan tài. Cha mẹ tôi được phép nhìn mặt tôi lần cuối trước khi đóng nắp quan tài, đó là lúc tôi được sống lại. Nếu không sống lại, thì sau đó vài phút, người ta sẽ đóng nắp quan tài và thi thể tôi sẽ bị thiêu.
    Lập tức tôi bắt đầu giải thích những gì tôi đã thấy và nghe. Người ta rất kinh ngạc. Tôi đã nói với họ về những người tôi đã thấy trong hồ lửa, và bảo họ rằng chỉ có Cơ đốc nhân mới biết chân lý, rằng tổ phụ của họ và của chúng tôi đã bị lừa dối hàng ngàn năm nay. Tôi nói với họ rằng mọi điều chúng ta tin đều là giả dối cả. Người ta rất kinh ngạc vì họ biết tôi thuộc về loại tu sĩ nào và tôi đã nhiệt thành với sự dạy dỗ của Phật Thích Ca như thế nào.
    Ở Miến Điện, khi một người chết, tên và tuổi được viết bên cạnh quan tài. Khi một tu sĩ chết, thì tên của thầy tu, tuổi và số năm phục vụ làm tu sĩ được viết ben cạnh quan tài. Tôi đã được người ta ghi rằng tôi chết, nhưng bây giờ quí vị có thể nhìn thấy tôi đang sống!

Lời Kết:

    Vì “Phao-lô Trở Lại Cuộc Sống” kinh nghiệm câu chuyện nói trên, nên anh cứ tiếp tục làm chứng về Chúa Jêsus Christ. Các mục sư Miến Điện nói với chúng tôi rằng anh đã dẫn đưa hàng trăm tu sĩ Phật giáo đến với Chúa Jêsus. Lời chứng của anh rõ ràng là không nhượng bộ. Vì thế, sứ điệp của anh đã làm xúc phạm nhiều người, là những người không chấp nhận Jêsus Christ là CON ĐƯỜNG DUY NHẤT đến thiên đàng. Dù bị chống đối dữ tợn, nhưng những kinh nghiệm của anh quá thật đối với anh, nên anh không hề lay chuyển. Sau nhiều năm là tu sĩ Phật giáo, một người nghiêm túc tuân theo sự dạy dỗ của Phật Thích Ca, bây giờ anh lập tức công bố phúc âm của Đức Chúa Trời sau khi anh được sống lại và khuyên những tu sĩ khác từ bỏ tất cả những hình tượng giả dối và hết lòng theo Đức Chúa Jêsus Christ. Trước thời gian anh bị bệnh và chết, không có biểu hiện nào cho thấy anh biết gì về Cơ-đốc giáo. Mọi việc anh học trong ba ngày nằm trong quan tài đã rất mới đối với anh.
    Trong nổ lực đưa sứ điệp của anh đến càng nhiều càng tốt, La-xa-rơ hiện đại nầy bắt đầu phân phát băng video và băng cassette về câu chuyện của anh. Cảnh sát và nhà cầm quyền Phật giáo tại Miến Điện đã làm hết sức mình để thu lại những băng cassette nầy và tiêu hủy. Lời chứng mà quí vị đọc được ở đây đã được dịch từ một trong những cuộn băng đó. Chúng tôi được biết rằng hiện nay nếu công dân Miến Điện nào có những băng này thì rất nguy hiểm cho họ.
    Lời chứng không sợ hãi của anh đã đưa anh vào tù ít nhất một lần, khi nhà cầm quyền không thể làm cho anh câm miệng. Khi anh được thả ra, anh tiếp tục làm chứng về những điều anh đã thấy và nghe. Hiện nay anh ở đâu, chúng tôi không được biết. Một nguồn thông tin của Miến Điện cho biết anh ta có thể bị tù hay bị giết rồi, trong khi một nguồn tin khác lại nói, anh đã được trả tự do và tiếp tục công việc anh được giao phó. 





Nguồn: http://www.godembassy.com/main/where-will-you-spend-eternity/item/606-monk-sees-buddha-in-hell-and-lives-to-tell-guatama.html

Bạn xem thêm Lời Làm chứng của Nhà sư Thích Huệ Nhật Tin Chúa Giê-xu



Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email: luaphucamhp@yahoo.com


Trang Hoithanhkienbai Blog: Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..


Từ Cội Bồ Đề Đến Chân Thập Tự Giá

Đăng bởi Bùi Qúy Đôn | Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013










Có thể bạn là người thỉnh thoảng đi chùa, đã quy y hoặc xuất gia, ăn chay trường hoặc ăn chay vì có lời khấn hứa khi gặp một gian nguy nào đó trong cuộc sống… hay bạn đang quá đau đớn, lo lắng, sợ hải bị trừng phạt vì những tội lỗi của quá khứ và hiện tại, bạn muốn phục thiện, muốn làm công đức, mong rằng được xóa tội, thoát khỏi biển đời đau khổ này… Nhưng triết lí nhà phật có câu : “Nhứt niệm sân si khởi, năng thiêu thiên vạn đức chi lâm”, nghĩa là một ý nghĩ nóng giận nổi lên có khả năng thiêu hủy vạn rừng công đức. “Một đời làm lành, lành chưa đủ. Một phát làm tội, tội có dư”.


Câu chuyện sau đây là một hồi kí của má tôi. Nó không phải là một câu chuyện không tưởng, nhưng là lời làm chứng thật một trăm phần trăm về quyền năng của Chúa xảy ra trên gia đình má tôi.

Tất cả những nhân vật, địa danh và thời gian đều là thật. Má tôi (bà Thiền Thị Hường, thường gọi là bà Mười Hường) hiện đang sống tại quận Phú Nhuận, thành phố Sài Gòn và sinh hoạt ở Hội Thánh Tin Lành Gia Định. Bà gởi đến chứng tôi những dòng hồi kí này và mong rằng những đứa con của bà cùng gia đình chúng tôi lúc nào cũng hầu việc Chúa.

Má tôi – bà Thiều Thị Hường, người con thứ mười nên thường gọi là “Bà Mười Hường” và cũng là con gái út trong một gia đình trung lưu tại xã Thạnh Mỹ Lợi, huyện Thủ Đức. Ông bà ngoại tôi là người rất sùng bái đạo Phật. Ông luôn luôn dạy bảo con cái tu dưỡng, tích đức để được hưởng phước đời sau và học tập cách tu thân như đức Phật. Do đó má tôi, các dì, các cậu đều được ông ngoại tôi khuyến khích đi tu. Lúc má tôi lên 6 tuổi, ông bà ngoại tôi để ruộng vườn, đất đai và nhà cửa tại Giồng Ông Tố cho người con lớn trông nom, rồi dẫn một nữa số con cái lên tu ở gần huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa (dốc 47 đi vào khoảng 2km), xây hai kiểng chùa để cả gia đình ăn chay trường tụng niệm và tu hành.Vì vậy, từ lúc 6 tuổi, má tôi được học kinh Phật bằng chữ nho. Từ sáng đến tối má tôi chỉ học kinh Phật, rồi tụng niệm, ngoài ra không biết gì đến chuyện đời cả. Trong một khu đất có rất nhiều chùa. Một chùa lớn gọi là Tổ Đình, mà vị hòa thượng trụ trì là ông Bộ Sường, đã làm lễ “thí phát quy y” cho cả gia đình ông bà ngoại tôi (gọi nôm na là cạo đầu để nhận vào đạo Phật). Môn phái này là Tịnh Độ. Lễ “thí phát quy y” được tổ chức rất lớn, và mỗi người được vị hòa thượng cho một pháp danh. Má tôi được mang pháp danh Diệu Thông từ đó.

Má tôi tu tại đây cho đến năm 10 tuổi thì hai người anh của má tôi xin phép ông bà ngoại tôi được lên Tây Ninh, vào núi Điện Bà (còn gọi là núi Bà Đen), tìm một hang đá để tu tịnh, chứ không muốn gõ mõ, đánh chuông rườm rà như ở chùa nữa… Má tôi thấy vậy nên cũng xin theo hai anh. Ông bà ngoại tôi bằng lòng. Thế là ba anh em: Hai trai, một gái, đầu cạo láng, chân đi đất, y phục chỉ là cà sa vàng, tay cầm bình bát, mỗi sáng ra chợ hoặc phố đứng yên đọc kinh Phật. Thiên hạ kẻ qua người lại trông thấy, mang thức ăn cúng vào trong bình bát, có khi là cơm, gạo, xôi nếp, hoặc hoa quả… Được thiên hạ cúng thí thứ nào thì ăn thứ nấy, nhưng chỉ được ăn mỗi ngày một lần vào buổi trưa mà thôi (gọi là ăn Ngọ), vì theo quan niệm các người tu hành Phật Giáo thì ăn Ngọ là những người tu hành Phật Tiên… còn ăn sau bữa ăn trưa như ăn chiều, ăn tối thì dành cho ma quỷ…

Tuy lúc đó mới được 10 tuổi, nhưng má tôi rất ngộ đạo, dốc tâm tu hành khổ hạnh, không thiết tha gì đến việc đời. Mỗi buổi sáng khi má tôi đi khất thực trên hè phố, có nhiều người thành tâm quỳ xuống, lạy dưới chân má tôi. Có người nói rằng: “Họ kính lạy sắc phục của Phật”. Có người lại nói: “Thấy gương của má tôi mà kính phục, vì còn nhỏ mà dám hy sinh, chịu khổ hạnh”. Trong số đó có một người tên là cô Hai Phải. Thấy tình cảnh má tôi quá thương tâm, nên cô động lòng trắc ẩn. Cô đề nghị hai người anh của má tôi dời về khu đất của cô để tu, đừng đi tu trên núi nữa. Tại đây cô Hai Phải cho mỗi người một cái chòi nhỏ (gọi là Cốc) để tu. Từ đó, má tôi và hai cậu khỏi lên núi mà tu tại đây.

Trong thời gian này, ở Tây Ninh có một Nhà thờ Tin Lành. Mục sư Châu, quản nhiệm Hội Thánh, thường đi chứng đạo khắp vùng. Một hôm, ông ghé qua khu đất của cô Hai Phải, thấy má tôi còn quá nhỏ mà ở một mình trong cái cốc nhỏ, đang đọc kinh Phật, nên nghé vào hỏi thăm. Biết má tôi chỉ biết chữ Nho, còn chữ quốc ngữ thì hoàn toàn không biết, nên ông đề nghị dạy cho má tôi chữ quốc ngữ. Từ đó ông lui tới thăm viếng má tôi luôn để dạy cho má tôi học đọc và viết chữ quốc ngữ. Đến khi má tôi nguệch ngoạc viết được chữ quốc ngữ thì Mục sư Châu tặng cho má tôi một cây viết, một cuốn tập, và đặc biệt là cho má tôi mượn một quyển Kinh Thánh Tân Cựu Ước để má tôi mỗi ngày noi theo nét chữ tập viết cho quen. Có một điều lạ là Mục sư Châu không hề khuyên bảo má tôi tin theo Chúa hoặc từ bỏ Phật giáo. Ông chỉ đến dạy sơ về Kinh thánh thôi.

Má tôi ở đó được một năm (tức 11 tuổi), thì hay tin ông ngoại tôi bệnh nặng, nên trở về thăm. Ông ngoại tôi giữ lại không cho về Tây Ninh nữa. Vì bệnh nặng nên ông ngoại tôi để lại một người con tại Long Thành coi sóc chùa, rồi đưa cả gia đình trở về Mỹ Thạnh Lợi. Ông nhờ thợ xây một kiểng chùa lớn trước mặt nhà để tu, đồng thời cũng gần nhà thương và thầy thuốc để chạy chữa bệnh khi cần.

Má tôi kể lại cho ông ngoại tôi nghe về Mục sư Châu, cũng như vài câu chuyện về Chúa Giê-xu. Ông ngoại tôi nói: “Bây giờ chờ thợ xây cất nhà xong thì mình lên Sài Gòn mua thêm tượng Chúa về thờ chung với Phật cũng tốt vậy”. Lúc đó, má tôi đâu biết nhiều về Chúa Cứu Thế Giê-xu và phải thờ phượng Chúa như thế nào để nói cho gia đình hiểu, vì Mục sư Châu không có dạy !!! (Đến ngày nay mỗi lần nhắc đến câu chuyện này má tôi rất hối tiết vì không kịp cho cha mình biết về Chúa Cứu Thế).

Ba năm sau, ông ngoại tôi trở bệnh nặng và qua đời. Cả gia đình đều buồn bã và bơ vơ vì mất một người chồng đạo đức, một người cha yêu dấu, cũng là trụ cột tinh thần hướng dẫn và chỉ đạo cả gia đình.

Sau đám tang ông ngoại tôi nữa năm, một người gì của tôi đi chợ Giồng Ông Tố về có mang theo một cuốn sách nhỏ do một người trao tặng…Má tôi đọc cuốn sách nhỏ đó cho bà ngoại tôi nghe. Đây là lúc quyền năng của Chúa Giê-xu thể hiện, vì cuốn sách nhỏ ấy chính là sách Công Vụ Các Sứ Đồ, một cuốn sách trong Kinh thánh, Lời của Đức Chúa Trời. Khi má tôi đọc đến đoạn 4 câu 12: “Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác, vì ở dưới trời chẳng có danh nào khác ban cho loài người để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu”, thì bỗng má tôi thấy có một ý hay nên đọc trở lại vài lần. Cũng ngay lúc này bà ngoại tôi chợt nói: “Nếu chỉ có Chúa là Đấng cứu mình và ngoài ra chẳng có đấng nào khác thì tại sao mình không theo Chúa ?”

Từ đó Thánh Linh của Chúa dùng câu Kinh Thánh tác động mạnh khiến bà ngoại tôi suy nghĩ nhiều. Bà đi hỏi thăm địa chỉ Nhà thờ Tin Lành. Lúc đó, chỉ tại thị trấn huyện Thủ Đức mới có Nhà thờ Tin Lành, nhưng từ Mỹ Thạnh Lợi đến Thủ Đức cách xa 14km. Sự đi lại lúc bấy giờ rất khó khăn vì không có phương tiện đi lại dồi dào như ngày nay. Nhưng một hôm bà ngoại tôi quyết định đi mướn chiếc xe ngựa, chở cả gia đình lên Thủ Đức tìm Nhà thờ Tin Lành (lúc bấy giờ là đúng một năm sau khi ông ngoại tôi qua đời).

Khi chiếc xe ngựa dừng lại trước cổng Nhà thờ Thủ Đức, thì nhiều người đi ra bảo cho bà tôi biết rằng chùa nằm ở phía bên kia, còn đây là nhà thờ Tin Lành, vì họ thấy chiếc xe ngựa chở toàn thầy chùa và cô vãi đầu thì trọc láng, áo quần thì toàn là cà sa chính hiệu…

Khi nghe bà ngoại tôi trình bày, họ mới vỡ lẽ và quá ngạc nhiên. Họ trở vào mời Mục sư ra tiếp đón “Phái đoàn sư sãi” vào Nhà thờ. Lúc ấy là năm 1941, quản nhiệm Hội thánh là Mục sư Bùi Tự Do. Ông mời cả gia đình ngoại tôi vào Nhà thờ, hỏi thăm và giải nghĩa tận tường những cơ bản về đạo cứu rỗi. Sau đó bà ngoại tôi, các cậu, dì và má tôi đồng lòng quý xuống ăn năn tin nhận Chúa… Cả Hội thánh bật khóc vì quyền năng của Chúa quá lạ lùng. Quang cảnh một nhóm sư sãi áo vàng đi tìm Nhà thờ Tin Lành để tin nhận Chúa thì quả là lạ đời và hi hữu trên thế gian này.
Sau khi tin nhận Chúa tại Hội Thánh Tin Lành Thủ Đức vào khoản tháng 7 năm 1941, thì đến trước Lễ Giáng Sinh, cả gia đình ngoại, má tôi đều chịu phép báp têm.

Từ khi tin nhận Chúa, cả gia đình ngoại tôi lúc nào cũng chuyên cần học hỏi Kinh Thánh. Bà ngoại tôi dự tính tu sửa kiểng chùa lớn ở khu đất mà ông ngoại tôi khi còn sống đã làm, nhưng còn dang dở. Mục sư Bùi Tự Do và Ban Trị Sự Hội Thánh Thủ Đức đã đến thăm gia đình bà ngoại tôi và tổ chức “bố đạo” (truyền giảng) ngay tại chùa. Cứ mỗi tuần vào chiều thứ năm, bà ngoại tôi sắp nghế mời mọi người đến nghe giảng đạo.

Công cuộc truyền giảng ngày càng có kết quả tốt, dân chúng tin nhận Chúa rất nhiều. Bà ngoại tôi đề nghị Mục sư Bùi Tự Do xin phép cất Nhà Thờ tại xã Mỹ Thạnh Lợi, vì giảng đạo trong chùa thì không đủ chổ ngồi, còn lên Nhà Thờ Thủ Đức thì xa 14km, người dân không thể đi được.

Khoảng một năm sau, việc xây cất nhà thờ được chấp thuận. Ngôi nhà thờ nhỏ nhưng khang trang dựng bên cạnh chùa của ông bà ngoại tôi. Hội Thánh cử vợ chồng thầy Tường đến ở chăm nom. Nhà thờ nhóm lại mỗi tuần một lần vào thứ năm do Mục sư Bùi Tự Do đảm trách và mỗi tháng tổ chức truyền giảng môt lần .

Lúc bấy giờ chiến tranh bộc phát mạnh ( khoảng 1942-1943), mọi người chạy lánh nạn, Nhà thờ Thạnh Mỹ Lợi bị bắn sập. Gia định ngoại tôi phải dọn cách đó khoảng 2km. Từ đó gia đình tôi phải lên Nhà thờ Thủ Đức để thờ

Bạn thân mến ! 

Có thể bạn là người thỉnh thoảng đi chùa, đã quy y hoặc xuất gia, ăn chay trường hoặc ăn chay vì có lời khấn hứa khi gặp một gian nguy nào đó trong cuộc sống… hay bạn đang quá đau đớn, lo lắng, sợ hải bị trừng phạt vì những tội lỗi của quá khứ và hiện tại, bạn muốn phục thiện, muốn làm công đức, mong rằng được xóa tội, thoát khỏi biển đời đau khổ này… Nhưng triết lí nhà phật có câu : “Nhứt niệm sân si khởi, năng thiêu thiên vạn đức chi lâm”, nghĩa là một ý nghĩ nóng giận nổi lên có khả năng thiêu hủy vạn rừng công đức. “Một đời làm lành, lành chưa đủ. Một phát làm tội, tội có dư”.

Bạn có chắc rằng suốt cả đời mình sẽ không bao giờ phạm vào tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, ố không ? Con người ở trong công lệ thiên nhiên: sanh, lão, bệnh, tử. Có những lúc cơ thể mệt mỏi, bệnh tật, khó khăn… bạn có chắc mình sẽ không bao giờ phạm tội, và vượt được những thử thách cám dỗ ? Nếu phạm tội thì công đức vừa làm coi như vô nghĩa. [...]

phượng Chúa.

Về phần má tôi, từ khi tiếp nhận Chúa – đầu tóc ra chưa kịp và má tôi luôn mặt áo cà sa vàng vì quá quen thuộc – nhưng vẫn trung tín đi thờ phượng Chúa.

Đến kì Hội Đồng của Hội Thánh tổ chức tại Sại Gòn. Mục sư Do cũng đưa má tôi đến để làm chứng về quyền năng kì diệu của Chúa. Liên tiếp mấy năm liền Hội Đông tổ chức tại đâu, là má tôi lại cà sa vàng, đứng lên lớn tiếng làm chứng. Mọi người nghe đều rất cảm động.

Đến năm 15 tuổi, má tôi được bà ngoại cho đi tham dự khóa học Kinh Thánh tổ chức tại Cần Thơ trong vòng một tháng rưỡi. Má tôi rất vui mừng vì được tham dự học Kinh Thánh và cầu nguyện xin Chúa sử dụng má tôi trong công việc nhà Chúa. Từ đó má tôi là người đi làm chứng sốt sắng nhất trong Ban Thanh Niên Hội Thánh Thủ Đức. Chùa nào, miếu nào má tôi cũng lặn lội đến để rao truyền ơn cứu rỗi của Chúa.

Đến năm 17 tuổi, ông bà nội của ba tôi đến xin cưới má tôi cho cháu nội đích tôn (vì cha mất sớm nên ba tôi phải sống với ông bà nội từ thuở nhỏ). Ông bà là một trong những người tin Chúa đầu tiên ở Hội Thánh Thủ Đức, hầu việc Chúa trong Ban Chấp Sự Hội Thánh. Ba tôi lúc bấy giờ là Thư Ký Hội Thánh kiêm Trưởng Ban Thanh Niên.

Từ đó đến nay, trên bước đường theo Chúa, phục sự Ngài trải qua rất nhiều thử thách tưởng chừng không thể vượt qua nổi, nhưng ơn lành, nhân từ, và sự nâng đỡ của Chúa đã giúp má tôi kinh nghiệm tình thương của Chúa nhiều hơn, hưởng phước của Chúa thật kì diệu cho đến ngày hôm nay. Má tôi dâng lên Chúa lời cảm tạ Chân thành và dâng tất cả con cái mình cho Chúa để Ngài sử dụng thật hữu ích trong công việc Ngài. Chúng tôi cũng được hưởng phước mà Chúa hứa ban đến ngàn đời cho hậu tự của những người yêu mến, kính sợ Chúa và vâng giữ Lời Ngài, và khi qua đời, chúng tôi sẽ được sống đời đời trên Thiên Đàng.

Bạn thân mến !
Có thể bạn là người thỉnh thoảng đi chùa, đã quy y hoặc xuất gia, ăn chay trường hoặc ăn chay vì có lời khấn hứa khi gặp một gian nguy nào đó trong cuộc sống… hay bạn đang quá đau đớn, lo lắng, sợ hải bị trừng phạt vì những tội lỗi của quá khứ và hiện tại, bạn muốn phục thiện, muốn làm công đức, mong rằng được xóa tội, thoát khỏi biển đời đau khổ này… Nhưng triết lí nhà phật có câu : “Nhứt niệm sân si khởi, năng thiêu thiên vạn đức chi lâm”, nghĩa là một ý nghĩ nóng giận nổi lên có khả năng thiêu hủy vạn rừng công đức. “Một đời làm lành, lành chưa đủ. Một phát làm tội, tội có dư”.

Bạn có chắc rằng suốt cả đời mình sẽ không bao giờ phạm vào tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, ố không ? Con người ở trong công lệ thiên nhiên: sanh, lão, bệnh, tử. Có những lúc cơ thể mệt mỏi, bệnh tật, khó khăn… bạn có chắc mình sẽ không bao giờ phạm tội, và vượt được những thử thách cám dỗ ? Nếu phạm tội thì công đức vừa làm coi như vô nghĩa.

Bạn có chắc rằng khi qua đời bạn sẽ vào Niết Bàn hay sa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ? Theo giáo lý nhà Phật thì có kiếp luân hồi, khi con người phạm tội sẽ bị đày đọa, rồi sống trong kiếp súc sanh, khốn khổ, không thể tự chủ được đời sống mình, thì làm sao mà tu để trở lại đầu thai thành người, và bản chất con người là tội lỗi, thì làm sao bạn có thể thoát khỏi bến mê này được ?

Bạn giống như một người sắp chết đuối cần được cứu chứ không cần phương pháp, pháp môn. Các tôn giáo chỉ cho con người cách để vượt khổ, nhưng không ban cho năng lực, tự họ phải nổ lực vật lộn giữa biển đời này. Hãy suy gẫm lại bạn sẽ thấy biết bao phong ba bão táp của cuộc sống muốn nhận chìm cuộc đời bạn ? Con người bất lực, cần nắm lấy phao cứu sinh cho linh hồn, cho cuộc đời mình.

Kinh thánh khẳng định :
-  “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần rồi chịu phán xét”. ( Hê bơ rơ 9 : 27).
-“ Đang khi chúng ta bó tay tuyệt vọng, Chúa Cứu Thế đã đến đúng lúc để chết thay cho chúng ta, là người tội lỗi, xấu xa” (BDY- Rô ma 5:6).
- “ Ai tin Chúa Giêxu thì có sự sống đời đời, ai không chịu tin Chúa Giêxu thì không có sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người ấy” (Giăng 3:36).

Bạn thân mến !
Chúa Giêxu là Phao Cứu Sinh của bạn. Chúa là Đấng Thánh Khiết đã từ bỏ Thiên Đàng đến trần gian để chịu chết, để trả thay món nợ tội lỗi cho bạn và cả nhân loại. Chúa đã sống lại để chứng minh Ngài đắc thắng sự chết, bảo đảm cho sự cứu rỗi của bạn va đưa bạn vào nước Thiên Đàng.

Sau khi đọc những lời chứng tâm huyết trên, xin bạn tin nhận Chúa Giêxu là Cứu Chúa của cả đời mình và hưởng ơn phước của Ngài. Xin bạn quỳ xuống và thành tâm cầu nguyện như sau :

“ Kính lạy Chúa Cứu Thế Giêxu, Ngài là Chân Lý. Bấy lâu nay, con sống trong tội lỗi, nhưng bây giờ con xin ăn năn, từ bỏ tội lỗi của con. Con tin Chúa đã chết trên cây thập tự để làm giá cứu chuột con. Giờ này, con xin Chúa tha tội cho con, chấp nhận con làm con cái Đức Chúa Trời. Xin Ngài dẫn dắt, làm Chủ Tể của đời con, con cảm tạ Chúa vô cùng. Con thành tâm cầu nguyện, nhân Danh Chúa Giêxu. Amen”.


TỪ CỘI BỒ ĐỀ ĐẾN CHÂN THẬP TỰ GIÁ, Từ Cội Bồ Đề Đến Chân Thập Tự Giá TỪ CỘI BỒ ĐỀ ĐẾN CHÂN THẬP TỰ GIÁ, Từ Cội Bồ Đề Đến Chân Thập Tự Giá






Mọi đóng góp về bài vở xin liên hệ tới chúng tôi qua email: luaphucamhp@yahoo.com


Trang Hoithanhkienbai Blog: Một trang chia sẻ cho bạn về niềm tin nơi Thượng Đế trong Đức Chúa Giê-xu Christ: Tin tức, dưỡng linh, đời sống, hôn nhân, vvv..


SỨC KHỎE- ÐỜI SỐNG

Xem tất cả Sức khoẻ đời sống »

SẮC ÐẸP

Xem tất cả Sắc đẹp »

GIA CHÁNH

Xem tất cả Gia chánh »

MẸ & BÉ

Xem tất cả Mẹ và bé »